Chúng ta đã biết đến rất nhiều câu châm ngôn trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam đề cập đến tầm quan trọng của gia đình trong đời sống xã hội, như “Gia đình là tế bào của xã hội”, “Tề gia, trị quốc...”.
Ra đời từ khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, cũng chưa thoát khỏi “cái bóng” của chế độ mẫu hệ nguyên thuỷ; không hề được ghi lại bằng bất cứ văn bản hay văn tự nào, nhưng luật tục truyền miệng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đều có những chương, điều quy định về thái độ ứng xử của mỗi thành viên trong cộng đồng đối với gia đình.
Nếu ca dao người Kinh có câu: “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, thì luật tục Êđê, phần mở đầu Chương VI, nói về mối quan hệ cha mẹ - con cái, cũng khẳng định:
“Có dưa, có bắp là có người trồng
Có con cái là do cha mẹ sinh ra
Có người phải được coi trọng”.
Luật tục M’nông ở phần quy định hôn nhân - gia đình cũng có lời nhắc nhở:
“Mẹ cõng mới còn
Cha cõng mới còn
Mẹ nuôi từ nhỏ, cha nuôi đến lớn”.
Suốt đời chăm lo cho con cái cho đến khi:
“Tóc cha mẹ đã bạc
Hai gò má đã nhăn
Hàm răng đã rụng cả
Lưng đã gù”
nên con cái có nghĩa vụ phải chăm sóc lại khi cha già mẹ yếu. Nếu vi phạm điều này là người có tội, phải bị xem xét mức độ vi phạm. Tuy nhiên, trước khi kết tội, luật tục Jrai còn phân tích cặn kẽ: nếu không có cha mẹ nuôi nấng, thì con cái:
“Không thể lớn như cây tre
Như chiếc mầm không thể thành rừng cây lớn”.
Chính vì vậy mà cộng đồng M’nông cũng sẽ lên án những kẻ không nhớ tới công ơn đó mà lại “muốn to tiếng đàn áp cha mẹ”. Còn luật tục Êđê cũng chê trách loại người:
“Như ngọn cỏ muốn vươn cao hơn cây lau
Như cọng tranh muốn vươn cao hơn cây sậy
Như thú rừng muốn vọt cao hơn lùm cây êjung”.
Tất nhiên, đến khi đó, luật tục Jrai sẽ không tha thứ cho những đứa con vô ơn, thờ ơ với cha mẹ:
“Khi uống rượu ngon nó quên
Ăn trâu, uống heo nó không nhớ tới bố mẹ đẻ”.
Vì chỉ như vậy thôi “chúng đã là người có tội”. Còn nếu chúng là kẻ không biết nghe điều phải trái, lười lao động:
“Củi không đi lấy
Rẫy không đi làm
Cối chày không đụng đến”
để giúp đỡ cha mẹ, thì đến “chị em hắn cũng chẵng ai còn muốn cưu mang”. Đặc biệt là những đứa con mắc tội bạo hành với cha mẹ, luật tục Êđê đã nêu:
“Khi có bắp chân to nó dẫm lên cha
Có đùi to nó đạp lên mẹ”,
thì dứt khoát “là kẻ có tội, phải đưa ra xét xử”. Những đứa con bỏ bê cha mẹ lúc ốm đau cũng sẽ bị cộng đồng xét xử truất quyền thừa kế theo luật tục Êđê. Nếu đã từng được chia thì phải “trả lại phần của cải của mẹ cha để lại”. Thậm chí:
“Muối thừa, lúa thừa, cơm thừa
Bầu bí và gia súc nó không được hưởng”.
Trong hoàn cảnh đó, luật tục M’nông khẳng định gia đình tất dẫn đến cảnh suy sụp:
“Làm gì có đủ của mà đền
Con cháu bị bắt đem đi bán
Hoặc là ở đợ cho người ta”.
Những quy định và viễn cảnh đó chắc chắn không chỉ là sự răn đe, mà còn khẳng định nguyên tắc ứng xử của cộng đồng, mọi thành viên bắt buộc phải tuân thủ.
Luật tục các dân tộc Tây Nguyên không chỉ quy định hiếu đễ với cha mẹ, mà còn cả thái độ ứng xử với ông bà, với người già trong buôn làng:
“Cha mẹ như cái rẫy mới
Ông bà như cái rẫy cũ”,
con cái phải luôn chăm sóc mới đảm bảo một đời sống ổn định. Bởi nếu “người già chết, nợ nần đến múa”. Nhất là không được “hỗn láo với ông bà”. Luật tục M’nông nêu cao trách nhiệm của con cháu là:
“Đừng bỏ ông bà
Phải nuôi cho đến già mới chết”.
Bởi vì “Bỏ người già làm họ tủi thân”. Theo luật tục Jrai thì “Lời nói át lời người già” cũng giống như “Con chim bay qua rẫy, con sóc nhảy qua rẫy”, không thể vượt qua được.
Ngược lại, các bộ luật tục cũng quy định rõ, nghĩa vụ của cha mẹ không chỉ là nuôi nấng mà còn phải dạy dỗ con cái nên người. Lỗi lầm của con cháu, tuỳ theo hành vi và mức độ vi phạm, mà cha mẹ cũng phải là người cùng chịu trách nhiệm. Trước hết là việc dung túng những hành vi sai trái của con cái, cũng sẽ giống như việc:
“Nuôi heo thả rông ủi hết khoai non
Nuôi bò thả rông ăn sạch áo quần
Nuôi voi thả rông ăn sạch chuối mía”.
Nhất là nếu đứa con ấy phạm tội ăn cắp mà cha mẹ làm ngơ thì luật tục M’nông quy định “cha mẹ có tội, anh em có tội”, cũng sẽ bị cộng đồng đem ra xét xử. Thậm chí tội nặng thì còn bị:
“Chịu phạt thu trâu và ché
Thu sạch cả kho lúa trong nhà”.
Những người làm cha mẹ như vậy bị xã hội lên án, luật tục Êđê cho rằng “Khác nào con chim ngói tìm theo nắng, con chim két tìm theo gió”, và chắc chắn sự đồng loã ấy “phải đưa ra xét xử giữa họ với những người khác”.
Như đã nói ở trên, cho dù không có một toà án chính thức nào của “chính quyền buôn làng”, cũng không có sự huấn thị giáo lý thường xuyên của các vị chức sắc hoặc các già làng, các bộ luật tục cũng không hề có văn tự, nhưng toàn bộ luật tục Tây Nguyên sử dụng bằng những lời nói vần, vẫn được lưu truyền trong trí nhớ thông tuệ của các già làng, được toàn thể cộng đồng tuân theo một cách tự nguyện. Đây cũng chính là điểm rất đặc biệt trong đời sống “công xã nguyên thuỷ” của Tây Nguyên: tính cộng đồng bền vững. Mọi thành viên, vì sự tồn tại của cộng đồng, của gia đình trong cộng đồng, mà luôn tuân thủ những lề lối, tập tục bất thành văn này. Ai làm tổn thương đến sự yên bình của gia đình cũng đồng nghĩa với việc làm bất ổn cuộc sống của cả cộng đồng, đều bị lên án và xử phạt tuỳ theo lỗi nặng nhẹ. Điều làm người ta e ngại nhất không phải chỉ là bị bồi thường, mà còn là việc bị xử phạt và xin lỗi trước toàn thể cộng đồng.
Luật tục Tây Nguyên ra đời trong một xã hội chưa phân chia giai cấp, do trình độ dân trí, do mẫu hệ, nên có những điểm ngày nay không còn phù hợp. Nhưng một số quy định về hôn nhân, gia đình vẫn nguyên giá trị, có sự ràng buộc, là sự đảm bảo tính bền vững của một gia đình cũng như cả cộng đồng mà không phải hương ước của vùng nào cũng có.
Những điều luật được chuyển tải dưới hình thức văn vần, không chỉ là để cho dễ thuộc, dễ nhớ, mà còn trở thành một trong những áng văn học dân gian truyền miệng độc đáo của mỗi dân tộc.