10 Tháng Hai 2012 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Hồ Chí Minh - Đảng cộng sản Việt Nam và Cách mạng tháng tám 1945
Đinh Duy Linh
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Vào những năm đầu của thế kủ XX, Hồ Chí Minh mang trong mình trái tim yêu nước nồng cháy đã nhận lấy sứ mạnh lịch sử đi tìm ánh sáng giải phóng, để làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Trải qua một thập niên tìm tòi lựa chọn, Người đã quyết định đi theo con đường cách mạng vô sản - con đường giải phóng nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi mọi xiềng xích nô lệ theo học thuyết Mác.
Chủ nghĩa xã hội của Mác đã được Lênin và Đảng Bônsêvich hiện thực hóa bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười liệu có thể du nhập và dẫn đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á thắng lợi?
Hồ Chí Minh bằng thiên tài trí tuệ của mình đã tiếp thu những giá trị tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là học thuyết Mác - Lênin với một thái độ khoa học và sáng tạo, Người đã nêu lên những ưu điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật. Với quan điểm biện chứng này, ngay từ năm 1924 Hồ Chí Minh đã nêu lên một quan điểm vô cùng độc đáo, đó là “Cần phải bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng những tư liệu mà thời kỳ của ông không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên cơ sở triết học lịch sử châu Âu, chứ chưa phải toàn thể nhân loại, nên phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước... phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản”... là một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời(1). Đó là một phát kiến mác-xít thiên tài, một đóng góp vô cùng to lớn của Hồ Chí Minh vào kho tàng lý luận cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng thuộc địa từ những năm 20 của thế kỷ XX.
Hệ quả của chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương đã làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc ở đây với thực dân Pháp ngày càng sâu sắc. Sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đã chuẩn bị sẵn đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ phải làm việc gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi. Muốn gieo hạt giống của chủ nghĩa xã hội trước hết phải có đảng cách mạng. Tháng 11 năm 1924, Hồ Chí Minh đến Quảng Châu (Trung Quốc), sau đó Người đã tổ chức ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (1925), vận động và tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng để đưa họ về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân đấu tranh. Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, trong đó cách mạng giải phóng dân tộc là dòng chủ lưu đã kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin, và lý luận giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh trở thành động lực tư tưởng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân và phong trào dân tộc trong cả nước dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản năm 1929. Các tổ chức đó hoạt động biệt lập và bất đồng với nhau. Trong một nước mà có 3 tổ chức cộng sản hoạt động mà lại bất đồng với nhau như vậy là một nguy cơ. Nếu không có một lãnh tụ uy tín, có đủ tài đức để quy tụ 3 tổ chức lại thành một Đảng thống nhất thì nguy cơ đó sẽ tiếp tục phát triển và hậu quả thì không thể lường trước được. Một yêu cầu khách quan, một nhiệm vụ trọng đại bấy giờ là phải quy tụ các tổ chức cộng sản làm hạt nhân lãnh đạo phong trào cách mạng đã được Hồ Chí Minh đảm nhận. Người đã chủ động, quyết đoán, độc lập và sáng tạo nhanh chóng thống nhất các tổ chức đảng riêng lẻ để lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1930).
Cương lĩnh của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo được Hội nghị hợp nhất nhất trí thông qua, đã đề ra chủ trương làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, thu phục công nhân và nông dân, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, trung tiểu địa chủ và tư sản bản xứ nhằm thực hiện nhiệm vụ đánh đổ thực dân Pháp và bọn tay sai, làm cho đất nước Việt Nam được độc lập tự do. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã kết hợp biện chứng yếu tố dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, trong đó nổi bật là yếu tố dân tộc, là tư tưởng độc lập, tự do. Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định phần lớn tính độc đáo của tiến trình cách mạng thuộc địa. Nhờ đó, tuy mới ra đời, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, một phong trào cách mạng đã diễn ra sôi nổi trong toàn quốc (1930-1931) mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh. Thực tế Xôviết Nghệ - Tĩnh đã cho thấy, trừ một số ít ở tầng lớp trên phản bội lại dân tộc, chống lại phong trào cách mạng của quần chúng, các tầng lớp trí thức và một số sỹ phu, trung, tiểu địa chủ lại có xu hướng cách mạng rõ ràng.
Qua khủng bố trắng dữ dội, họ vẫn cố gắng bám lấy cách mạng và âm thầm ủng hộ cách mạng, nhất là tiểu địa chủ và phú nông, trung nông hạng trên, một số nhà nho bần hàn cũng có cảm tình với cách mạng. Giai cấp tư sản nhỏ, như buôn bán làm ăn khá giả đều có ý thức xu hướng cách mạng(2).
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Pháp - Nhật cấu kết với nhau thống trị Đông Dương. Nhân dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Do sự thay đổi về kinh tế, chính trị, sự thay đổi về thái độ của các giai cấp tầng lớp xã hội đòi hỏi “Đảng Cộng sản Đông Dương cần thay đổi chiến lược”.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương do Hồ Chí Minh trực tiếp chủ trì đã nêu rõ: Trong giai đoạn cách mạng hiện tại nếu không đánh đuổi được Nhật - Pháp thì vận mạng của dân tộc không những phải chịu mãi kiếp ngựa trâu muôn đời mà vấn đề giai cấp cũng không làm sao giải quyết được. Vì thế, cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa nữa mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần-kíp dân tộc giải phóng, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng nhằm đánh đuổi Pháp, Nhật để giành lại quyền độc lập, phải do lực lượng toàn dân tộc thực hiện, hễ là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, xu hướng chính trị. Sau khi đánh đuổi được Pháp, Nhật sẽ thiết lập Chính phủ cách mạng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh có nhiệm vụ đoàn kết lực lượng toàn dân tộc đánh Pháp đuổi Nhật làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập. Bản Chương trình của Việt Minh cũng chỉ cốt thực hiện được hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước là nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam được sung sướng tự do.
Sự thay đổi chiến lược quan trọng của Đảng chuyển từ cách mạng tư sản dân quyền có tính chất phản đế và điền địa sang cách mạng giải phóng dân tộc - chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp - phản đế là một bước tiến quan trọng trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng, có ảnh hưởng quyết định đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này.
Từ Pác Bó đầu nguồn, lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết đánh đổ đế quốc Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” đã lan truyền khắp toàn quốc, quy tụ ngày càng đông đảo lực lượng dân tộc trong tổ chức Việt Minh, hình thành một lực lượng chính trị rộng lớn, có tổ chức lực lượng vũ trang làm nồng cốt, tạo thành một ưu thế cách mạng chớp thời cơ ngàn năm có một, tiến hành khởi nghĩa vũ trang trong cả nước, lật đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, giành lại quyền độc lập dân tộc, quyền tự do cho toàn dân.
Tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chương trình cứu nước của Việt Minh đã thành hiện thực bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 02/9/1945, Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”(3).
Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng ở một nước thuộc địa, Đảng Cộng sản mới thành lập được 15 năm đã lãnh đạo cách mạng thành công, giành được chính quyền trong cả nước. Sở dĩ có hiện tượng lịch sử độc đáo này là nhờ có Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã luôn duy trì nguyên vẹn trong mình tâm hồn và đạo lý làm người của dân tộc, đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở triết lý lịch sử phương Đông và tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam vào việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đúng đắn và kịp thời thống nhất các tổ chức cộng sản, xây dựng cương lĩnh, chiến lược, đường lối chủ trương cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo.
Từ thực tiễn Cách mạng Tháng Tám 1945, của thắng lợi trong 76 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng cho phép chúng ta rút ra một bài học lịch sử có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn nóng hổi rằng: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị, năng lực tổ chức của mình đủ sức giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra”(4).
 *******************
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2000, t1, tr465, 466.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, Hà nội, 2001, t2, tr299, 230.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t3, tr557.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr6, 7.
 

Ngày gửi:02/05/2007 Số lần xem:1207

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN