Đã trên 60 năm kể từ khi người Pháp đem trồng thử và gần 50 năm kể từ khi tập đoàn giống Bơ nhập nội được trồng tại Trung tâm thực nghiệm Eakmat (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây nguyên), cây Bơ và trái Bơ đã trở nên rất quen thuộc đối với hầu hết người dân tỉnh Dak Lak. Trong những năm gần đây, hàng năm, cứ vào mùa tháng 5 đến tháng 8 dương lịch, trái Bơ xuất hiện hầu hết các nẻo đường nông thôn cũng như các thị tứ sầm uất, mùa làm ăn nhộn nhịp của nông dân, người mua gom, chủ vựa trái cây, những chuyến xe hàng… mang trái Bơ Dak Lak đến hầu khắp các thị trường trong nước. Vậy mà đã từng có thời vì sự lên ngôi thống trị của cây cà phê, thị trường quả Bơ nội địa chưa phát triển, nhiều nông dân, hộ gia đình phá bỏ cây Bơ không thương tiếc hoặc coi cây Bơ như ăn nhờ sống gởi. Có nhiều lý do để chúng ta cần phải khôi phục mạnh mẽ nghề trồng Bơ, một loại cây được coi như đặc sản của Tây nguyên, thị trường tiềm năng còn rất lớn, nội địa cũng như xuất khẩu.
Theo thống kê của FAO (2005) toàn thế giới có 63 nước sản xuất trái Bơ với tổng diện tích thu hoạch 392,5 ngàn ha, tổng sản lượng 3,2 triệu tấn, năng suất trung bình 8,2 tấn/ha, lượng xuất khẩu 491,5 ngàn tấn và giá trị xuất khẩu 606,6 triệu USD. Các quốc gia có sản lượng lớn trên 100 ngàn tấn là Mexico (1.040,4 ngàn tấn), Indonesia (263,6 ngàn tấn), Mỹ (214 ngàn tấn), Colombia (185,8 ngàn tấn), Brazil (175 ngàn tấn), Chile (163 ngàn tấn), Cộng hoà Dominique (140 ngàn tấn), Peru (102 ngàn tấn). Hầu hết các quốc gia dành phần lớn sản lượng cho tiêu thụ nội địa. Các quốc gia xuất khẩu Bơ chủ yếu là Mexico (135,9 ngàn tấn), Chile (113,6 ngàn tấn), Israel (58,3 ngàn tấn), Tây Ban Nha (53,2 ngàn tấn), Nam Phi (28,6 ngàn tấn).
Trái Bơ có giá trị dinh dưỡng đặc biệt và nhiều công dụng
Trong thập niên 1990-1999 tiêu thụ quả Bơ bình quân đầu người trên thế giới tăng từ 376g lên 381g/năm tương ứng với nhu cầu tiêu thụ tăng 2-2,3 triệu tấn/năm. Đối với các nước phát triển thì quả Bơ là thực phẩm chức năng cao cấp còn đối với các nước đang phát triển quả Bơ là thực phẩm chức năng cao cấp vừa là thực phẩm giàu năng lượng và dinh dưỡng cho người nghèo. Thịt quả Bơ chứa trên 14 vitamin và chất khoáng, giàu lipit, chất xơ tự nhiên, kali và vitamin E. Các phát hiện gần đây cho thấy quả Bơ ngoài tác dụng cung cấp dinh dưỡng còn có tác dụng giúp các sản phụ giảm tỷ lệ sinh con dị tật, chống lại bệnh viêm gan C và đặc biệt hơn trong quả Bơ có chất glutathion, một hợp chất gồm 3 axít amin có khả năng chống ô xi hóa, ngăn ngừa bệnh tim, ức chế khối u. Thịt quả Bơ hoàn toàn không chứa cholesterol nhưng rất giàu lutein giúp bảo vệ mắt tránh một số bệnh như đục thủy tinh thể. Hàm lượng beta-sitosterol cũng cao như trong dầu đậu nành và olive, có liên quan ức chế u gây ung thư. Ngoài ra, lipit trong quả Bơ là hỗn hợp của những acid béo chất lượng cao W3, W6, W9nên khẩu phần ăn giàu Bơ có thể làm giảm đáng kể “cholesterol xấu” và “cholesterol tổng số”, giảm triglycerides trong huyết tương, có lợi cho bệnh nhân tiểu đường. Quả Bơ rất phù hợp cho nuôi dưỡng trẻ em, 100g Bơ trái chứa hàm lượng protein tương đương 100g sữa. Khi trẻ em được 6 tháng tuổi, có thể cho bé ăn dưới dạng sinh tố nhuyễn. Tại Việt Nam, khoảng 30% số trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân, nhất là ở vùng nông thôn, nếu trái Bơ được sử dụng làm thực phẩm cho trẻ em chắc chắn sẽ góp phần hiệu quả giải quyết thực trạng này.
Quả Bơ được ăn tươi là chính dưới hình thức xắt lát, sinh tố, sa lát, kem, xúp, nước xốt… Ngoài ra có thể dùng thịt trái Bơ đắp lên da làm làn da tươi mát, giữ độ căng mịn, làm chậm quá trình lão hóa da. Ngày nay với công nghệ cao chiết xuất tinh dầu Bơ, người ta dùng chúng trong công nghiệp mỹ phẩm, một phần dùng làm dầu ăn chất lượng cao.
Thị trường nội địa trái Bơ đã hình thành và bước đầu phát triển khá mạnh, có tiềm năng xuất khẩu
Phân tích chuỗi giá trị Bơ Dak Lak tiến hành vào tháng 6/2006 cho thấy những con số đáng ngạc nhiên khiến chúng ta phải suy nghĩ về giá trị kinh tế và ý nghĩa xã hội của sản xuất trái Bơ trên địa bàn này, điều mà lâu nay chúng ta ít quan tâm.
Các huyện và thành phố sản xuất trái Bơ chủ yếu của Dak Lak là Buôn Ma Thuột, Krông Pắk, Krông Buk, Krông Ana, Cư M’Gar, Ea Kar, Krông Năng, Ea H’Leo. Bơ cho thu hoạch hầu như quanh năm, nhưng chính vụ là từ tháng 5 đến tháng 8 dương lịch. Có một số cây Bơ chín sớm và đặc biệt là nhiều cây chín muộn trong các tháng 9 đến 11 dương lịch. Thời gian rất hiếm quả Bơ trên thị trường là từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.
Số liệu điều tra, tính toán tại 138 cửa hàng thu gom, đại lý trái cây trên địa bàn Dak Lak như sau:
|
TT
|
Nội dung
|
Tính theo ngày
|
Tính theo mùa*
|
|
01
|
Lượng Bơ bán ra
- Tại Tp. Buôn ma Thuột
- Tại các huyện
|
337 tấn/ngày
107 tấn/ngày
230 tấn/ngày
|
40.410 tấn/mùa
12.810 tấn/mùa
27.600 tấn/mùa
|
|
02
|
Số cây Bơ cho thu hoạch
|
3.368 cây/ngày
|
404.100 cây/mùa
|
|
03
|
Số hộ có Bơ cho thu hoạch
|
674 hộ/ngày
|
80.820 hộ/mùa
|
|
04
|
Số người thu gom
|
1.648 người/ngày
|
|
|
05
|
Diện tích thu hoạch
|
22 ha/ngày
|
2.694 ha/mùa
|
|
06
|
Số chuyến xe tải
|
42 chuyến/ngày
|
5.051 chuyến/mùa
|
(*) mùa Bơ chính tính từ tháng 5 đến tháng 9 dương lịch
Tính giá thấp nhất trong mùa tại các đại lý là 2.500 đ/kg, thì giá trị trái Bơ trên địa bàn Dak Lak ước khoảng gần 7 triệu USD/mùa (5 tháng), tương đương 6.000 tấn cà phê nhân thời giá 20.000 đồng/kg, 22.000 tấn quả vải với giá 5.000 đồng tại vườn. Không thể coi đây là con số không có ý nghĩa đối với nền kinh tế nông nghiệp tỉnh nhà cũng như so với các loại cây dài ngày khác. Người nông dân hầu như không đầu tư gì thêm trên đồng ruộng vì hầu hết cây Bơ được trồng xen trong vườn cà phê hoặc trồng xung quanh vườn nhà, lại có thêm nguồn thu nhập rất đáng kể. Kinh doanh buôn bán Bơ còn tạo gía trị gia tăng cho quả Bơ (giá bán 1 kg quả Bơ ở các thành phố lớn 4.500 đ đến 15.000 đồng tùy theo mùa), đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động.
Điều tra kênh thị trường cho thấy trái Bơ Dak Lak đã đến hầu hết các thành phố lớn trong nước, kể cả Hải Phòng, các tỉnh duyên hải miền Trung và miền Tây Nam bộ. Các thị trường xuất khẩu tiềm năng của trái Bơ Dak Lak là Trung quốc, Lào và Campuchia. Ở châu Á, Nhật Bản đang tiêu thụ quả Bơ nhập khẩu từ Úc, New Zealand với giá tại siêu thị 12-15 USD/kg, nhưng thị trường này rất khó thâm nhập.
Lợi thế và các vấn đề của sản xuất, tiêu thụ trái Bơ Dak Lak
Ngoài lợi thế về điều kiện tự nhiên và truyền thống đã được khẳng định qua quá trình trồng trọt trên 60 năm, ngày nay có thể nhìn nhận lợi thế và các vấn đề cần giải quyết trên nhiều mặt:
- Giống Bơ còn tồn tại cho đến ngày nay có quá trình thích nghi khá lâu, từ đó có thể chọn lọc một số ít giống Bơ năng suất, chất luợng cao, chín sớm hoặc chín muộn để rải vụ thu hoạch cung ứng quanh năm cho thị trường. Dak Lak đang có tập đoàn 12 giống Bơ thương phẩm nhập nội có thể khai thác sớm đưa vào cơ cấu giống. Vấn đề cần giải quyết là phải có hệ thống nhân và cung ứng giống ghép chất lượng cao, uy tín, hướng dẫn và quảng bá rộng rãi cho người dân. Những cây Bơ chất lượng kém, năng suất thấp cần phải được ghép thay giống.
- Nông dân trồng Bơ đã ít nhiều có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cũng như bắt đầu nhận thức được giá trị kinh tế của cây Bơ trong hệ thống cây trồng có lợi thế của Dak Lak. Vấn đề là cây Bơ trồng còn quá phân tán, ít được đầu tư chăm sóc cũng như ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật. Trong vòng 5-10 năm tới cần phải hình thành một số vùng trồng tập trung vài ngàn ha, ứng dụng công nghệ tiên tiến (trồng dày, tạo hình tạo tán, áp dụng quy trình chăm sóc thu hoạch GAP), sản xuất Bơ chất lượng cao dành cho xuất khẩu. Về lâu dài trồng Bơ phân tán như cây trồng xen tạo thêm thu nhập phục vụ nhu cầu mội địa vẫn là hình thức trồng chủ yếu, vì vậy cần phải tập huấn hướng dẫn người dân biết cách áp dụng những công nghệ thích hợp tăng năng suất, chất lượng, nhất là trồng cơ cấu giống rải vụ và kỹ thuật rải vụ như đã áp dụng trên một số cây ăn trái khác. Các kỹ thuật này đã được nghiên cứu ứng dụng thành công ở các nước trồng Bơ tiên tiến, chỉ cần thử nghiệm lại trong điều kiện Việt Nam.
- Kênh phân phối, cung ứng trái Bơ đã hình thành, đã có phân công lao động khá rõ rệt. Vấn đề là hệ thống người mua gom, các đại lý, người bán lẻ chưa được trang bị kiến thức về thu hoạch và sau thu hoạch của trái Bơ, chưa đủ năng lực đầu tư cơ sở vật chất cho phân loại, bảo quản, vận chuyển, tỉ lệ thất thoát sau thu hoạch còn rất cao (20-30%). Số lượng người mua gom, đại lý quá nhiều, làm ăn còn manh mún, cần phải được tổ chức tập trung lại theo tuyến xã, huyện, giảm bớt số đầu mối trung gian, tìm nguồn vốn đầu tư cũng như áp dụng công nghệ thích hợp cho các khâu sau thu hoạch như đã nêu trên. Các siêu thị cần thực sự đầu tư cho nguồn sản phẩm đầu vào, liên kết chặt với những đại lý cung ứng, kiểm soát chặt nguồn gốc, chất lượng sản phẩm cũng như trang bị hệ thống vận chuyển, bảo quản lạnh phù hợp cho trái Bơ.
- Thị trường trái Bơ nội địa đã hình thành, hầu khắp các tỉnh thành đều có tiêu dùng nguồn trái Bơ từ Dak Lak. Tuy nhiên thị trường trái Bơ chỉ thực sự sôi động vào các tháng chính vụ, chỉ có thể giải quyết bằng những giải pháp đồng bộ từ đồng ruộng cho đến từng khâu trong kênh cung ứng để trái Bơ được cung ứng tương đối dồi dào trong cả năm với chất lượng ổn định. Hệ thống nhà hàng sẽ là nơi tiêu thụ đáng kể nếu như trái Bơ được chế biến thành những món ăn đa dạng, hấp dẫn và thường xuyên giới thiệu trong các thực đơn. Chương trình quốc gia về dinh dưỡng cho trẻ em cần phải xem xét khuyến cáo đưa trái Bơ vào khẩu phần ăn của trẻ, coi như một loại sữa thực vật. Vẫn còn nhiều người Việt Nam chưa biết trái Bơ và chưa quen ăn trái Bơ, cần phải tăng cường quảng bá tiếp thị. Hệ thống thông tin thị trường phải được hình thành. Xây dựng thương hiệu cho trái Bơ Dak Lak. Tuy thị trường Bơ trái đã được chiếm lĩnh bởi những nước sản xuất có trình độ công nghệ tiên tiến, nhưng cũng phải từng bước tìm kiếm cơ hội cho xuất khẩu, nhất là tại các thị trường láng giềng. Nghiên cứu công nghệ chiết dầu Bơ cũng là một hướng để gia tăng lượng tiêu thụ và tạo giá trị gia tăng.
Tìm chỗ đứng trên thị trường và phát triển bền vững trái Bơ Dak Lak sẽ là một quá trình khó khăn và lâu dài vì Bơ là loại quả ăn tươi vào loại khó tính. Những bước đi ban đầu cần phải được sự quan tâm hỗ trợ, nỗ lực liên kết từ nhiều phía, trong cũng như ngoài chuỗi giá trị, trong đó vai trò của chính quyền, đoàn thể địa phương các cấp là hết sức quan trọng. Trong quá khứ một số người có tâm huyết đã dành nhiều cống hiến đơn lẻ với mong mỏi trái Bơ Dak Lak góp phần xứng đáng vào phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà. Trong bối cảnh hiện nay, để gặt hái thành công, những nỗ lực đơn lẻ trong từng khâu của chuỗi cung ứng cần phải được gắn kết hữu cơ thành chuỗi giá trị mà mỗi thành viên trong chuỗi đều đóng vai trò quyết định và có tác động qua lại mât thiết với những thành viên còn lại. Từ sự gắn kết đó, trái Bơ Dak Lak không chỉ đứng vững trên thị trường nội địa mà còn hy vọng có thể vươn ra thị trường quốc tế vốn đã được phân chia với sự cạnh tranh khốc liệt.