09 Tháng Chín 2010 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Qủan lý Nhà nước về chính sách, tổ chức thực hiện và giám sát hoạt động KHCN ĐắkLắk
Tiến sỹ Y Ghi Niê
                              Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Dak Lak
Trong những năm qua, Dak Lak đã thu được những thành tựu đáng kể về phát triển KT-XH, tạo những tiền đề quan trọng để bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Hoạt động KHCN địa phương với vai trò là nền tảng và động lực của sự phát triển KT-XH, đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển và đi lên đó của tỉnh.
            I. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHCN Ở ĐỊA PHƯƠNG
            1. Về cơ chế chính sách
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn kiện quan trọng về KHCN trong sự nghiệp đổi mới, như: Nghị quyết 26 và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị; Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII); Nghị định 86 của Chính phủ; Thông tư Liên tịch số 15 của Bộ KH&CN và Bộ Nội vụ quy định chức năng, nhiệm vụ Sở KHCN; Quyết định 272 của Chính phủ về Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam đến năm 2010; Luật KHCN...
Với tỉnh Dak Lak, có Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ 13, 14; Chương trình hành động số 27 của Tỉnh uỷ thực hiện NQTW2; Nghị quyết số 24 của Hội đồng Nhân dân Tỉnh về Chương trình phát triển KHCN đến năm 2010...
Trên cơ sở vận dụng Luật KHCN và các văn bản liên quan, Sở KH&CN tiến hành xây dựng và tham mưu UBND Tỉnh ban hành các quy chế về quản lý và xét chọn các dự án, đề tài nghiên cứu KHCN để làm cơ sở thực hiện, như:
- Quy chế tam thời về việc xét chọn hồ sơ và thẩm định các chương trình, đề tài KHCN cấp tỉnh giai đoạn 2002-2005,
- Quy chế tạm thời về phương thức làm việc của Hội đồng KHCN xét chọn và thẩm định chương trình, đề tài cấp tỉnh giai đoạn 2002-2005,
- Quy định tạm thời về việc kiểm tra, thanh quyết toán các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu KHCN...
Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng giúp cho Sở KH&CN tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình.
2. Tổ chức, thực hiện hoạt động khoa học ở địa phương
            2.1 Về tổ chức
            Bên cạnh tổ chức bộ máy Sở KHCN còn có Hội đồng Khoa học Tỉnh, cơ quan thường trực đặt tại Sở KH&CN. Hội đồng đã có những đóng góp quan trọng, cùng với Sở KH&CN định hướng nghiên cứu, thẩm định, thống nhất nội dung đề tài, dự án KHCN tham mưu UBND Tỉnh phê duyệt.
            Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Sở KH&CN đã kịp thời tham mưu UBND Tỉnh hình thành mạng lưới KHCN cấp huyện. Tuy chưa có biên chế chuyên trách (hiện thuộc phòng Kinh tế huyện) nhưng mạng lưới KHCN cấp huyện đã được tập huấn nghiệp vụ quản lý KHCN và được xem là “cầu nối” quan trọng góp phần đưa nhanh TBKT đến với địa bàn huyện và nhân dân.
            2.2 Quản lý hoạt động KHCN
            a) Quản lý đề tài, dự án
            Căn cứ quy định của Luật KH&CN, hướng dẫn của Bộ KH&CN và UBND Tỉnh, Sở KH&CN đã tiến hành xây dựng các biểu mẫu và quy chế về quản lý, xét chọn các dự án, đề tài nghiên cứu KHCN cho từng giai đoạn cụ thể, được đăng tải trên các phương triện thông tin đại chúng, trên mạng, đồng thời thông báo cho các Sở, ngành, Viện, Trường trong và ngoài tỉnh đăng ký, thực hiện hàng năm, trên nguyên tắc:
- Việc xác lập danh mục các dự án, đề tài nghiên cứu KHCN hàng năm được Hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ, thẩm định và Sở KH&CN thống nhất với Sở Tài chính trước khi trình UBND Tỉnh phê duyệt.
- Nội dung dự án, đề tài KHCN phải xuất phát từ thực tiến, có tính khả thi. Việc ký kết và thực hiện hợp đồng nghiên cứu KHCN được thực thi theo các quy định hiện hành.
- Việc tổ chức đăng ký, thực hiện các chương trình KHCN công khai, dân chủ, với hình thức chỉ định, mở thầu tuyển chọn đã có những tác động tích cực đối với các đơn vị, cá nhân chủ trì thực hiện.
Kinh phí sự nghiệp KHCN hàng năm có sự gia tăng, khoảng 6-7 tỷ đồng/năm, tuy nhiên còn xa mới đạt mức 2% như chủ trương đề ra. Mỗi năm Sở KH&CN đầu tư trung bình cho khoảng: 14 đề tài (lĩnh vực KHCN 63% và KHXH&NV 37%); 06 nhiệm vụ KHCN chuyên ngành và dành 30 - 50 triệu đồng để hỗ trợ hoạt động ứng dụng TBKT cho mỗi huyện.
Những năm gần đây, hoạt động KHCN đã có những bước phát triển mới gắn bó hơn với sản xuất và đời sống, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Thành công cũng nhiều và chưa thành công cũng có, nhưng quan trọng là KHCN ngày càng bám sát thực tiễn. Xin đơn cử một vài thành tựu đó:
- Về các đề tài KHCN
Với mục tiêu đổi mới về chất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực kinh tế kỹ thuật trọng yếu nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng nhanh mức sống của nhân dân, KHCN tập trung nghiên cứu cải tiến, ứng dụng công nghệ mới trong khâu thu hoạch, chế biến một số loại nông sản, đảm bảo chất lượng xuất khẩu.
Trong nông nghiệp, đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phục tráng các giống cây cây, con năng suất, chất lượng cao, phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái cũng như ứng dụng có chọn lọc các giải pháp công nghệ sinh học trong sản xuất giống, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và đã đạt được một số kết quả quan trọng (như lai tạo giống, kỹ thuật ghép giống, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch...). Nhờ đó, nông nghiệp Dak Lak đã có những chuyển biến nhanh chóng cả về lượng và chất.
            - Về các đề tài khoa học xã hội và nhân văn
            Đã tập trung vào việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Ngoài ra, phải kể đến các đề tài mang tính tổng hợp nhằm khai thác tiềm năng KT-XH của từng vùng nhờ áp dụng các TBKT nông lâm nghiệp, xây dựng các mô hình điểm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần định hướng ngành nghề nông thôn, xoá đói giảm nghèo.
            - Về các dự án nông thôn miền núi
           Mục tiêu cơ bản là chuyển giao TBKT cho người dân, trên cơ sở xây dựng các mô hình, kết hợp tập huấn kỹ thuật cho nông dân, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc áp dụng TBKT cũng như làm cơ sở nhân rộng mô hình. Các dự án được đánh giá cao về hiệu quả kinh tế, xã hội và có sức lan toả lớn.
            b) Quản lý hoạt động TC-ĐL-CL
            Trên cơ sở NĐ 86/CP, với vai trò là cơ quan đầu mối Chi cục TC-ĐL-CL đã tích cực trong việc cung cấp tài liệu chuyên môn, đào tạo nghiệp vụ, xây dựng hệ thống chất lượng, đẩy mạnh tuyên truyền, phát động phong trào Giải thưởng Chất lượng sâu rộng ở địa phương. Những đóng góp nổi bật vào sự phát triển chung là việc hạn chế, ngăn chặn tiêu cực, gian lận thương mại, đảm bảo đo lường và nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong các chương trình xuất khẩu trọng điểm của tỉnh. Công tác quản lý chất lượng ngày càng đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả thiết thực.    
           c) Công tác thanh tra KHCN
            Với vai trò giám sát hoạt động KHCN, đo lường - chất lượng ở địa phương, Thanh tra KHCN hàng năm đã tổ chức định kỳ hoặc đột xuất các cuộc thanh tra diện rộng, thanh tra chuyên đề, thanh tra liên ngành đến tận cơ sở sản xuất kinh doanh, các đơn vị tham gia nghiên cứu, chuyển giao, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: đo lường chất lượng, sở hữu trí tuệ và đề tài, dự án KHCN.
            3. Về giám sát hoạt động khoa học
            Giám sát hoạt động KHCN ở địa phương là vấn đề xuyên suốt trong mọi hoạt động KHCN, từ việc tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước đến việc triển khai các nhiệm vụ KHCN. Qua hoạt động thanh tra KHCN đã kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm về đo lường, chất lượng, hàng giả, hàng kém chất lượng; vi phạm quyền sở hữu trí tuệ về kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá; an toàn bức xạ; và các vi phạm trong nghiên cứu khoa học... Nhờ quan tâm và làm tốt công tác này một cách thường xuyên nên đã góp phần lành mạnh hoá thị trường kinh doanh; nâng cao chất lượng nền kinh tế, nhận thức của xã hội đối với các mặt hoạt động KHCN ở địa phương; đóng góp vào ngân sách hàng trăm triệu đồng từ xử phạt các vi phạm.   
 
            II. NHỮNG THÀNH CÔNG, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân thành công
- KHCN đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, năm 2000 tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp chiếm 78,8% tổng sản phẩm toàn tỉnh thì đến năm 2003 giảm xuống còn 74,6% và năm 2005 còn 66,5%.
- Sở KH&CN đã kịp thời tham mưu cho lãnh đạo tỉnh cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về KHCN; xây dựng các chương trình trọng điểm để làm căn cứ thực hiện các nhiệm vụ KHCN hàng năm, theo hướng phát triển nông nghiệp bền vững.
            - Hoạt động KHCN ở địa phương tiếp tục nhận được sự quan tâm của Bộ KH&CN, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Dak Lak và sự hợp tác hiệu quả của các cơ quan hữu quan; huy động được các nguồn lực xã hội, nhất là các chuyên gia đầu đàn và các viện, trường, trung tâm nghiên cứu, ứng dụng KHCN trên địa bàn tham gia.
            - Công tác quản lý KHCN đã có những đổi mới và chuyển biến tích cực. Nội dung nghiên cứu, ứng dụng TBKT hoặc đổi mới công nghệ đều xuất phát từ mục đích dân sinh kinh tế, sát với tình hình thực tiễn địa phương và hướng mạnh về cơ sở. 
2. Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân
            - Một số cơ chế chính sách hoạt động KHCN còn chậm đổi mới, chưa theo kịp với yêu cầu công tác quản lý; chưa thực sự khuyến khích và thu hút đội ngũ cán bộ KHKT về công tác tại các vùng nông thôn.
            - Cán bộ KHKT vừa mỏng lại phấn bố mất cân đối giữa địa bàn huyện và thành phố, chủ yếu tập trung ở Tp. Buôn Ma Thuột, chiếm 40,78%, 12 huyện còn lại chỉ chiếm 59,22%, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ KHCN cấp huyện.
            - Quy mô, số lượng các công trình nghiên cứu còn khiêm tốn; công đoạn chuyển tiếp giữa nghiên cứu và thực tiễn chưa ngang tầm nên kết quả chậm được đưa vào ứng dụng và hiệu quả chưa cao.
            - KHCN có bước phát triển khá nhưng vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu to lớn của công cuộc đổi mới và làm tiền đề vững chắc để bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH ở địa phương.
              III. KIẾN NGHỊ
- Cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát huy nhân tố con người trên mọi lĩnh vực; hoàn thiện cơ chế, chính sách “chiêu hiền đãi sỹ” để thu hút cán bộ KHKT đủ sức giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ KHCN, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
- Có sự hỗ trợ và nhìn nhận thoả đáng hơn nữa đối với các tác giả có công trình nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật mang lại hiệu quả KT-XH cao.
- Từng bước đơn giản hoá các thủ tục hành chính, nhất là trong vấn đề thanh quyết toán đối với hoạt động nghiên cứu KHCN.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động KHCN; đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho KHCN. Tăng dần ngân sách sự nghiệp KHCN đạt 2% GDP để có điều kiện thực hiện một số chương trình KHCN trọng điểm, có tính định hướng chiến lược.
 

Ngày gửi:02/05/2007 Số lần xem:345

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN