Bùi Đức Thịnh
Chi cục HTX&PTNT
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giai đọan 2001 - 2005; Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Dak Lak đã ban hành các Nghị quyết, Quyết định về phát triển nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp nói riêng, thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng sản xuất lớn, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nông dân. Qua 5 năm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tỉnh Dak Lak đã đạt được những kết quả khả quan:
1. Phát triển lực lượng sản xuất , chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong giai đoạn 2001 - 2005, nền kinh tế của tỉnh Dak Lak tiếp tục phát triển và chuyển dịch theo hướng tích cực. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8,05%, tăng 1,47 lần so với năm 2000. Nền kinh tế đã duy trì được mức tăng trưởng khá so với bình quân chung cả nước 7,5% và khu vực Tây Nguyên. Trong đó, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 21,3% (KH 20%), nông – lâm - ngư nghiệp đạt 4,1% (KH 8%), thương mại dịch vụ đạt 17% (KH 12%). Bình quân đầu người đạt 4,55 triệu đồng (giá hiện hành), 550,6 USD (giá so sánh năm 1994), vượt 10% kế họach đề ra.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp. Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần từ 77,5% năm 2000, xuống 64,3% năm 2005; công nghiệp - xây dựng từ 7,2% năm 2000, tăng lên 12,9% năm 2005, ngành dịch vụ tăng từ 15,2% năm 2000 lên 22,7% năm 2005. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 17% lên hơn 19%, lao động nông nghiệp từ 83% xuống còn 81% vào năm 2005
Sản xuất nông, lâm nghiệptrong những năm qua tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng có mức tăng trưởng cao hơn mức bình quân của cả nước và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của tỉnh. Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tăng từ 6.407 tỷ đồng năm 2000 lên 7.920 tỷ đồng năm 2005, tốc độ tăng bình quân 4,3% năm. Đến cuối năm 2005, trong tổng giá trị sản xuất của ngành, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 97,9%, lâm nghiệp chiếm 1,1%, thủy sản chiếm 0,9%. Trong nông nghiệp, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 89,9% năm 2000 xuống 85,9% năm 2005; chăn nuôi từ 5,7% lên 9,5%. Giá trị thu về trên 1 ha đất nông nghiệp bình quân đạt 20,3 triệu đồng/năm
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt (giá 1994) tăng trung bình 3,37%/năm: từ 6.578 tỷ đồng năm 2001, lên 6.800 tỷ đồng năm 2005, trong cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt cây công nghiệp lâu năm vẫn chiếm vai trò chủ đạo trên 65%. Từ 2001-2005: tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành chăn nuôi đạt 15,52%/năm. Nếu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2001 là 397 tỷ đồng, năm 2005 lên đến 756 tỷ đồng, tăng 92,7%.
Ngành lâm nghiệp đang từng bước đi vào ổn định, quản lý, bảo vệ và xây dựng vốn rừng chuyển dịch dần theo hướng xã hội hoá nghề rừng đã thu hút nhiều lao động nhất là đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào kinh tế mới vào làm nghề rừng. Từ năm 2001 - 2005 trồng được 17.287ha rừng, khai thác gỗ rừng tự nhiên giảm dần từ 116.894m3 năm 2000 xuống còn 35.000m3 năm 2005. Thực hiện Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Từ 1999 đến 31/12/2006 đã triển khai thực hiện chương trình giao đất, giao rừng trên địa bàn 17 xã thuộc 5 huyện Ea H’Leo, Krông Buk, Krông Bông, Lăk và Ea Kar, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao: 25.075,4ha cho 3.401 hộ. Công tác chế biến lâm sản đã có hướng đi đúng, nguồn nguyên liệu từ rừng tự nhiên, rừng trồng và gỗ cao su đã được tận dụng chế biến, sản xuất các mặt hàng theo hướng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa với chất lượng cao. Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2005 là 192,1 tỷ đồng, so với năm 2001 là 172,2 tỷ đồng, tăng 11,63%.
Về công tác khuyến nông, trong giai đoạn 2001 - 2005 chương trình hướng dẫn người nghèo làm khuyến nông, khuyến lâm của tỉnh Dak Lak đã đạt được kết quả khả quan: xây dựng được 2.262 hộ tham gia xây dựng mô hình trình diễn các loại cây trồng, vật nuôi với kinh phí 3,173 tỷ đồng, huấn luyện nông dân được 39.568 lượt người tham gia với kinh phí là 2,786 tỷ đồng, hội thảo mô hình mẫu 20.536 lượt người tham gia với kinh phí thực hiện là 1,026 tỷ đồng, khuyến nông cộng đồng với kinh phí hỗ trợ là 2,239 tỷ đồng. Công tác khuyến nông đã từng bước chuyển biến về chất, tác động mạnh vào sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển theo hướng công nghệ cao, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Thực hiện Nghị quyết 04/NQ-TU của Tỉnh ủy Dak Lak về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội buôn điểm, phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 tỉnh Dak Lak. Mục tiêu của chương trình được xây dựng là đầu tư trực tiếp đến từng hộ dân để phát triển trồng trọt, chăn nuôi, quản lý bảo vệ rừng... thí điểm ở 13 thôn buôn/13 huyện, thành phố mang lại hiệu quả thiết thực cho đồng bào, nhằm nâng cao đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân với tổng mức kinh phí đầu tư là 6.500 triệu đồng, (mỗi buôn 500 triệu đồng).
Về xây dựng quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW, kỳ họp thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể. Trong 5 năm (2001- 2005) quan hệ sản xuất trong nông thôn đã có nhiều đổi mới, kinh tế hợp tác phát triển đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tính đến 30/11/2006, toàn tỉnh hiện có 182 tổ hợp tác nông nghiệp với 2.184 thành viên, 105 HTX nông nghiệp (trong đó: 12 hợp tác xã thành lập mới năm 2006).
Thực hiện Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, UBND các huyện, xã tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng về phát triển kinh tế trang trại. Việc đầu tư vào sản xuất nông nghiệp với quy mô lớn, tạo ra thị trường hàng hóa đa dạng, phong phú, bước đầu đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng nội địa. Kinh tế trang trại phát triển mạnh đã góp phần đẩy mạnh việc tích tụ đất đai, huy động vốn nhàn rỗi trong nông thôn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Năm 2005 toàn tỉnh có 1.273 trang trại, năm 2006 có 1.406 trang trại với tổng giá trị sản lượng hàng hoá là 165.226,48 triệu đồng, bình quân 1 trang trại đạt 117,51 triệu đồng.
2. Phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn
Hệ thống giao thông nông thôn: Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn toàn tỉnh không ngừng được đầu tư mở rộng. Nâng cấp, nhựa hóa được 120km tỉnh lộ, nâng tỷ lệ nhựa hóa tỉnh lộ lên 67%, trong đó cải tạo mở rộng được 5 trung tâm huyện. Đường huyện nhựa hóa được 286km, chiếm 30%, còn lại là cấp phối và đất tự nhiên. Đường xã nhựa hóa được 218,7km, chiếm 9,1%. Đường thôn, buôn chủ yếu là đất tự nhiên được sửa chữa thường xuyên để đảm bảo cho nhân dân đi lại trong cả hai mùa.
Về thủy lợi: Trong 5 năm, đã đầu tư xây mới 112 công trình thủy lợi, kiên cố hóa 180km kênh mương, đưa năng lực tưới tăng thêm 9.050ha, đáp ứng được 54% tổng diện tích cây trồng có nhu cầu tưới. Nâng tổng số công trình hiện có đến nay là 533 công trình thủy lợi các loại, trong đó: gồm 441 hồ chứa với dung tích 441 triệu m3 nước, có 63 đập dâng, 29 trạm bơm tưới và gần 1.000km kênh chính và kênh cấp I đảm bảo tưới cho gần 18.000 ha lúa vụ đông xuân và trên 40.000 ha cà phê. Tổng vốn đầu cho thủy lợi năm 2000 là 30 tỷ đồng, năm 2005 là 104 tỷ đồng.
Hệ thống điện: làm mới 57km đường dây 110 KV, 1.593km đường dây trung hạ áp và các trạm biến áp với tổng dung lượng 134,61 MVA, số vốn đầu tư trong 5 năm 780 tỷ đồng. Cấp điện cho 78 thôn, buôn căn cứ cách mạng và kéo điện sinh họat cho 22.533 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, 100% số xã có điện lưới quốc gia và 82% số hộ được dùng điện, mức tiêu thụ bình quân đạt 203 kwh/người/năm, tăng gấp đôi so với năm 2000.
Trường học: chất lượng giáo dục toàn diện luôn được giữ vững và tiến bộ. Tỷ lệ giáo viên được chuẩn hóa chiếm 88%. Có 60/170 xã được công nhận phổ cập trung học cơ sở, đạt tỷ lệ 35,29%. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường tăng từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005. Giáo dục học sinh dân tộc được quan tâm, tỷ lệ học sinh dân tộc năm học 2004 - 2005 ở các bậc tiểu học chiếm trên 32,75% tổng số học sinh toàn tỉnh. Đặc biệt, chương trình 159 về kiên cố hóa trường học đã đầu tư 58,6 tỷ đồng xây dựng 513 phòng học kiên cố. Tổng vốn đầu tư tăng từ 30,5 tỷ đồng năm 2000 lên 58,6 tỷ đồng năm 2005.
Trạm y tế: mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm củng cố, cán bộ y tế cơ sở được tăng cường. Năm 2005, toàn tỉnh đạt 9,7 giường bệnh và 4,2 bác sĩ trên 1 vạn dân; có 96% số xã có trạm y tế; 82,8% trạm y tế xã có bác sĩ và 95,5% số thôn buôn có nhân viên y tế. Y tế phát triển đã từng bước đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Tổng số trạm y tế đã kiên cố tăng từ 142 trạm năm 2000 lên 170 trạm năm 2005. Tổng vốn đầu tư đến năm 2005 là 114,75 tỷ đồng.
Trung tâm cụm xã: trong giai đọan 2000-2005, toàn tỉnh đã xây dựng được 13 trung tâm cụm xã, vốn đầu tư 26,896 tỷ đồng, xây dựng 87 công trình các loại. Đã có 8 dự án cơ bản hoàn thành, có 5 dự án đã đầu tư xây dựng một số công trình hạ tầng thiết yếu, các công trình đã phát huy hiệu quả như giao thông nội vùng, điện sinh hoạt phục vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, nhiều khu chợ thương mại được hình thành phục vụ mua bán trao đổi hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm của đồng bào tại các cụm xã.
Phát triển bưu chính viễn thông: tính đến 31/12/2005 số xã có bưu điện là 130/144 xã, chiếm 90,28%, tăng 20 xã so với năm 2004. Bưu chính viễn thông từng bước hiện đại hoá, đạt mức tăng trưởng bình quân 5 năm là 17,2%. Các xã, phường, thị trấn đều có điện thoại, bình quân 11 máy/100 người dân năm 2005.
Phát triển hệ thống chi nhánh các ngân hàng: trên địa bàn tỉnh hiện có 06 ngân hàng thương mại, 01 ngân hàng chính sách - xã hội, 01 Quỹ tín dụng Trung ương và 11 Quỹ tín dụng cơ sở. Tổng dư nợ cho vay thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong toàn tỉnh đạt 5.254 tỷ đồng, bình quân dư nợ cho vay một hộ nông dân để phục vụ nhu cầu sản xuất là 15.000.000đ/1hộ.
Về quy họach sắp xếp dân cư: trong giai đoạn 2000 - 2005 toàn tỉnh đã sắp xếp được 1.500 hộ, vốn đầu tư các dự án ổn định dân di cư tự do là 34,641 tỷ đồng gồm các hạng mục công trình như: đường giao thông nội vùng, cầu, hồ đập chứa nước, trường học, trạm xá, giếng nước sinh hoạt. Thực hiện kế hoạch di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới giai đoạn 2000-2005 là 5.392 hộ, trong đó di dãn dân nội tỉnh là 3.160 hộ, di dân ngoài tỉnh: 2.232 hộ. Tổng vốn đầu tư cho công tác di dân xây dựng vùng kinh tế mới là 17,5 tỷ đồng.
Hơn 5 năm qua, nông nghiệp của tỉnh nhà về cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa và phát triển tương đối toàn diện. Công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn bước đầu được phục hồi và phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, môi trường sinh thái và đời sống của nông dân được cải thiện. Quan hệ sản xuất từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hàng hóa; hệ thống chính trị ở cơ sở được tăng cường, dân chủ được phát huy, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn được đảm bảo. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế- xã hội, tạo tiền đề đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn