10 Tháng Hai 2012 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Tác dụng của Khoa học Công nghệ đến phát triển ngành cà phê
 
                    TS. Trịnh Đức Minh
Phó Giám đốc Sở KHCN ĐăkLăk
1. Giới thiệu chung
            Sau thời kỳ khủng hoảng về giá, diện tích cà phê cả nước giảm còn khoảng dưới 500.000 ha trong đó 95% là cà phê vối. Năm 2006 xuất khẩu 912.553 tấn đạt tổng kim ngạch 1,121 tỉ USD, chiếm khoảng 13% giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam, 43% thị phần cà phê vối toàn cầu, thị trường mở rộng trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.
            Dự kiến sản lượng niên vụ 2006/2007 vẫn đạt khoảng 15 triệu bao (60kg) tức khoảng 900.000 tấn. Đây là con số rất đáng kể tiếp tục có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình cung cầu cà phê thế giới trong thời gian tới. Giá cà phê tăng liên tục trong nửa năm đầu 2007 vừa qua có tác động không nhỏ đến gia tăng trồng mới không thể kiểm soát, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng thừa theo chu kỳ. Với sản lượng cà phê hòa tan còn rất nhỏ, năm 2006 xuất khẩu chỉ 870 tấn cà phê hòa tan trị giá 2,77 triệu USD, tiêu thụ trong nước chưa tới 10% cà phê nhân sản xuất ra, về lâu dài Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu cà phê nhân phụ thuộc rất nhiều vào biến động giá cả khó lường, ảnh hưởng tới 600.000 hộ dân với khoảng trên 1 triệu người liên quan trong chuỗi giá trị cà phê.
            Trước tình hình đó ngành cà phê đã đề ra chiến lược phát triển toàn diện bao gồm: tổ chức lại sản xuất và cả chuỗi ngành hàng; giảm diện tích, giữ vững sản lượng; tăng tỷ trọng cà phê chè; hạ giá thành sản xuất, nâng hiệu quả kinh doanh; nâng cao chất lượng; đa dạng hóa sản phẩm; xây dựng và phát triển thương hiệu; mở rộng thị trường… nhằm phát triển ngành cà phê một cách bền vững.
2. Các giải pháp KHCN

            Trong số các giải pháp phát triển bền vững cho ngành cà phê, khoa học công nghệ từ lâu đã được coi là chìa khóa nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng từ thực tiễn như:

- Chọn tạo giống mới có năng suất, chất lượng cao, kháng bệnh, từng bước chuyển đổi cơ cấu giống. 
- Xây dựng và phổ cập các quy trình chăm sóc hợp lý, tiết kiệm nhằm hạ giá thành sản phẩm, bảo vệ môi trường.
- Đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp trong vùng trồng cà phê, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, góp phần quản lý rủi ro trong sản xuất.
            - Đổi mới công nghệ, thiết bị chế biến sau thu hoạch nhằm giữ vững chất lượng vốn có của cà phê nhân, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nước.
             Với sự tập trung đầu tư nghiên cứu từ nguồn lực trung ương lẫn địa phương nhiều bộ giống mới, quy trình và tiến bộ kỹ thuật mới đã được tích cực phổ cập và được các doanh nghiệp, nông hộ áp dụng rộng rãi như:
- Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê vối (2001)
- Quy trình nhân giống cà phê vối bằng phương pháp ghép (2001)
- Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch cà phê chè (2002)
- Quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến cà phê vối (áp dụng cho cà phê Buôn Ma Thuột) (2005)
- Quy trình cưa - ghép cải tạo cà phê vối (2006)
- Tiến bộ kỹ thuật giống quốc gia cà phê vối 1997 (3 giống)
- Tiến bộ kỹ thuật giống quốc gia cà phê vối 2006 (5 giống)
- Tiến bộ kỹ thuật giống khu vực hóa cà phê vối 2006 (3 giống)
- Tiến bộ kỹ thuật giống khu vực hóa cà phê chè 2000 (4 giống)
- Hạt cà phê vối lai đa dòng (1997)
- Thiết bị chế biến ướt tiết kiệm nước quy mô nhỏ và vừa do trong nước sản xuất đã từng bước được giới thiệu và áp dụng.
3. Tác động của KHCN đến phát triển ngành cà phê
            Cũng như các ngành hàng khác việc định lượng những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của KHCN luôn là bài toán khó. Tuy vậy đối với phát triển ngành cà phê, có thể nêu bật những đóng góp quan trọng của KHCN như sau:
- Tăng năng suất, chất lượng cà phê nhân: trong vòng 10 năm đưa bình quân năng suất cả nước từ 1,0 tấn nhân/ha lên 1,8 tấn nhân/ha, chất lượng nhân thể hiện qua kích cỡ hạt cũng được cải thiện rất rõ rệt, cỡ nhân loại 1 trên sàng 16 từ 20-30% lên 50-60%. Tiến bộ vược bậc này nhờ áp dụng giống mới và các quy trình thâm canh hợp lý. Diện tích áp dụng giống mới qua trồng mới và ghép cải tạo chiếm khoảng 50%. Các diện tích thâm canh đủ nước tưới đạt trên 3 tấn nhân/ha trên diện rộng, có nơi, có lúc đạt tới 6-7 tấn nhân/ha. Cây cà phê vối Việt Nam đạt năng suất cao nhất thế giới. Các tồn tại về chất lượng nằm ở thu hoạch, sau thu hoạch, hệ thống thu mua, chế biến xuất khẩu, hệ thống kiểm soát chất lượng.
- Hạ giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận: các diện tích thâm canh hợp lý, điều kiện thuận lợi, năng suất cao, giá thành sản xuất từ 7.000 - 8.000đ/kg giảm xuống còn 5.000-6.000đ/kg, có thể duy trì sản xuất cà phê trong thời kỳ giá thấp cũng như thu lợi nhuận cao trên 50-60 triệu/ha với giá bán 20.000đ/kg trở lên. Hạ giá thành nhờ người sản xuất biết tiết kiệm nước tưới, phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật,…
- Đa dạng hóa sản phẩm trong vườn cà phê: người sản xuất có thêm thu nhập từ cây ăn quả, cây tiêu. Mô hình cà phê chè xen cao su rất có hiệu quả (Dreija, Daklak) cần nhân rộng trên các vùng sinh thái khác ở phía Bắc (Sơn la, Lai Châu dự kiến trồng 10.000ha cao su). Thu nhập từ gỗ cây đai rừng, che bóng (như Công ty Cà phê Thắng lợi, Dak Lak). Mô hình cà phê xen quế (Công ty Đoàn kết, Dak Lak).
- Góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng: tuy quá trình chuyển đổi một phần diện tích cà phê vối kém hiệu quả sang trồng cà phê chè, cây trồng ít đòi hỏi nước tưới như điều, ca cao, cao su… còn diễn ra khá chậm do tập quán trồng cà phê lâu đời và những lợi thế vốn có của sản phẩm cà phê như có thể bảo quản lâu, ít hao hụt trong bảo quản, có thể bán ký gởi… nhưng rõ ràng nghề trồng cà phê đã không còn phụ thuộc hoàn toàn vào sự độc tôn của cà phê như trước đây, đa dạng hóa sản phẩm cây trồng cũng như vật nuôi ở nông hộ, trang trại có chuyển biến khá rõ, là một công cụ hữu hiệu giúp quản lý rủi ro.
- Góp phần sản xuất cà phê bền vững: việc áp dụng các quy trình và tiến bộ kỹ thuật nêu trên cùng với kinh nghiệm phong phú từ sản xuất là cơ sở quan trọng giúp cho một số đơn vị sản xuất, doanh nghiệp bắt đầu sản xuất cà phê có chứng nhận, và đặc biệt sản phẩm nổi tiếng cà phê Buôn Ma Thuột đã được đăng bạ chỉ dẫn địa lý vào tháng 10/2005. Ngành cà phê đang tiến tới áp dụng phổ cập bộ tiêu chuẩn 4C do Hiệp hội cà phê 4C thế giới đề xuất như là một bộ quy tắc thực hành nền tảng của sản xuất cà phê bền vững được cộng đồng cà phê quốc tế thừa nhận.
            Việc nghiên cứu và chuyển giao công nghệ đã có tiến bộ khá dài trong thâm canh bền vững cà phê với một hệ thống các cơ quan nghiên cứu chuyển giao khá hoàn chỉnh. Bản thân nông dân cà phê rất sáng tạo và năng động, biết học hỏi kinh nghiệm và ứng dụng nhanh những tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng. Tuy nhiên vẫn còn thiếu những nghiên cứu mang tính kinh tế xã hội, phát triển cả một ngành hàng trên phạm vi quốc gia cũng như tại các địa phương có trồng cà phê. Sau khi gia nhập WTO, cà phê nhân Việt Nam không lo ngại sự cạnh tranh từ cà phê nhân nhập khẩu, do giá thành của ta rất cạnh tranh, nhưng là mặt hàng xuất khẩu luôn phải đối phó với tình trạng biến động mạnh về giá, chất lượng cà phê xuất khẩu bị mang tiếng xấu do tình trạng mua xô trong nước, các nhà nhập khẩu nước ngoài hưởng lợi từ các khâu tái chế đưa ra thị trường, các nhà chế biến cà phê hòa tan hưởng lợi từ cà phê vối chất lượng thấp giá rẻ.

            Các nghiên cứu và ứng dụng chuyển giao công nghệ cho tương lai nằm chủ yếu trong công nghiệp và thương mại để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng (đa dạng hóa chiều dọc), tổ chức lại ngành hàng theo mô hình chuỗi giá trị (value chain) gắn kết và chia xẻ lợi ích tất cả các thành viên tham gia trong ngành hàng. Nên chăng có một dự án quốc gia nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain) cho cà phê Việt Nam, trên cơ sở đó mới thấy rõ vị trí, lợi thế, điểm yếu của cà phê Việt Nam trên bình diện toàn cầu, khả năng liên kết đa quốc gia và đề xướng một chiến lược, kế hoạch phát triển bền vững không chỉ trong nông nghiệp mà cho cả một ngành hàng mang tính quốc tế cao vốn rất nhạy cảm, phức tạp và có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước như cà phê.

            Trước mắt cần phải giải quyết những công việc lớn để thực sự làm căn bản cho bảo đảm chất lượng cà phê, đó là tổ chức lại sản xuất cà phê nông hộ; kiểm soát xuất xứ hàng hóa từ người sản xuất; kiểm soát chất luợng xuất khẩu theo tiêu chuẩn TCVN.


Ngày gửi:14/11/2007 Số lần xem:910

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN