PGS.TS Phan Quốc Sủng
Nguyên Viện trưởng KHKT NLN Tây Nguyên
Do tác động của giá cả thị trường nên diện tích cà phê ở Dak Lak đã tăng lên với tốc độ nhảy vọt từ sau năm 1991 đến năm 2000. Theo những con số quy hoạch trước đây thì vào những năm 80 của thế kỷ trước diện tích dành cho cây cà phê chỉ từ 70.000 - 80.000ha, song trong thực tế đến năm 2000 diện tích cà phê của tỉnh Dak Lak (cũ) đã lên đến con số 264.000ha, sau khi tách tỉnh thì diện tích cà phê của tỉnh Dak Lak hiện nay vẫn còn 174.000ha. Con số quy hoạch mới nhất về diện tích cà phê của tỉnh Dak Lak sẽ giữ lại đến năm 2010 là 170.000ha để có sản lượng dự kiến là 375.000 tấn. Trong thực tế nếu nâng cao được chất lượng và ổn định trên thị trường quốc tế thì mỗi năm từ số lượng cà phê xuất khẩu của Dak Lak có khả năng thu thêm được trị giá trên 40 triệu USD, tương đương với 680 tỷ đồng, gần bằng 70% tiền thu ngân sách của tỉnh trong năm 2006.
Do phát triển cà phê ồ ạt vượt tầm kiểm soát của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng của tỉnh đã phát sinh nhiều tồn tại:
- Xâm hại nghiêm trọng tới diện tích rừng, lấy đất rừng để trồng cà phê, hủy hoại môi trường tự nhiên.
- Đất trồng cà phê không đủ tiêu chuẩn: đất nghèo dinh dưỡng, tầng mỏng, đất dốc.
- Không có hoặc thiếu nguồn nước tưới - một yêu cầu không thể thiếu trong mùa khô hạn.
- Các quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cà phê không được tuân thủ ngjiêm ngặt từ khai hoang làm đất, cây trồng xen che phủ, bảo vệ và cải tạo đất, cây che bóng, đai rừng, công trình chống xói mòn và rửa trôi đều đã bị bỏ qua.
- Cơ sở hạ tầng không đủ như: đường giao thông, công trình thủy lợi, sân phơi, máy móc thiết bị, kho tàng phục vụ cho chế biến và bảo quản sản phẩm.
- Môi trường tự nhiên bị suy thoái, nguồn nước ngầm bị cạn kiệt, khí hậu thay đổi (nhiệt độ, gió, độ ẩm...).
Từ năm 2006 đến đầu năm 2007, do giá cà phê lên cao (thường khoảng 21 triệu đồng/1tấn nhân) nên diện tích cà phê được trồng mới ở Dak Lak tăng thêm khoảng trên 10.000ha trong năm 2007, mặc dù chủ trương của tỉnh không khuyến khích trồng thêm diện tích cà phê vối.
Do đó, để đảm bảo tính bền vững trong sản xuất kinh doanh cây cà phê ở Dak Lak cho hiện tại và tương lai, nhất là khi thương hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột” đã được công nhận để cung cấp những sản phẩm cà phê có xuất xứ từ tỉnh Dak Lak trên thương trường trong nước và quốc tế có chất lượng cao lại càng trở nên có ý nghĩa và ràng buộc những nhà quản lý và sản xuất kinh doanh phải giải quyết hàng loạt những vấn đề mang tính sống còn để sản xuất kinh doanh cà phê ở Dak Lak bền vững và có hiệu quả cao trong nền kinh tế thị trường sôi động hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO.
Đây là những vấn đề vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa mang tính chiến thuật trước mắt đề từng bước khắc phục những tồn tại của quá trình phát triển tự phát đã để lại. Những vấn đề đó bao gồm:
1. Giảm diện tích cà phê, chỉ giữ lại quy mô diện tích hợp lý dựa theo những công trình điều tra nghiên cứu và quy hoạch giành quỹ đất cho cây cà phê dưới 170.000ha, dựa trên phương pháp chồng ghép bản đồ, hệ thống thông tin địa lý (GIS) để giữ lại diện tích cà phê ở những địa bàn được xác định là thích hợp về đất đai, khí hậu, nguồn nước tưới.
2. Có kế hoạch và chỉ đạo việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với những diện tích cà phê không thích hợp sang những cây trồng khác phù hợp và hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường. Cần phân tích và tổng kết các mô hình đã chuyển đổi hoặc trồng xen trong các lô cà phê để chọn ra những cây trồng phù hợp hay không phù hợp như: Cây ăn quả: sầu riêng, bơ, vải, xoài...; Cây lấy hạt: điều, ca cao, tiêu, dẻ...; Cây rừng: lát, xoan, dó trầm...
Cần có bản hướng dẫn kỹ thuật hoặc quy trình kỹ thuật để trồng và chăm sóc những cây trồng mới này.
3. Có cơ cấu giống cà phê phù hợp
Cà phê vối (Robusta Canephora) đã là một thế mạnh của Dak Lak. Cần tăng thêm diện tích cà phê chè (Arabica Coffee) ở những vùng có điều kiện sinh thái thích hợp. Không nên loại trừ cây cà phê mít trồng được ở những nơi đất xấu hơn, đất dốc, thiếu nước để làm hai chức năng: cây che phủ và cây kinh tế. Cà phê mít dùng đấu trộn với các giống cà phê khác để có được sự hài hòa giữa các vị đắng, chát, chua trong một tách cà phê khi uống.
4. Xây dựng các thương hiệu cà phê của tỉnh Dak Lak nói chung và các vùng, doanh nghiệp nói riêng, các dạng sản phẩm từ cà phê xô (thô) đến các dạng thành phẩm đều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với từng thương hiệu là phải có chất lượng cao, luôn ổn định. Muốn vậy trong hệ thống tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh, khuyến nông trong chăm sóc, thu hoạch, chế biến, chính sách giá cả, công tác kiểm tra, giám sát về mặt kỹ thuật và chất lượng phải được tiến hành chặt chẽ và đồng bộ. Mục tiêu cuối cùng là các thương hiệu phải có lực hấp dẫn, giữ được chữ tín đối với khách hàng, được thị trường chấp nhận để đưa lại hiệu quả của sản xuất kinh doanh bền vững trên cả hai mặt là kinh tế và môi trường sinh thái.
5. Tìm giải pháp để không ngừng hạ giá thành trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất.
- Coi trọng và tăng cường bón phân hữu cơ, phân vi sinh.
- Sử dụng tối đa tàn dư thực vật, các phế thải trong nông nghiệp. Sản suất chất hữu cơ tại chỗ như: trồng xen cây đậu đỗ, phân xanh ở trong và xung quanh lô cà phê.
- Giảm lượng phân bón hóa học, bón đúng cách để giảm tổn thất, tránh làm cho môi trường bị ô nhiễm.
- Sử dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp (IPM), hạn chế đến mức tối thiểu việc dùng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trên đồng ruộng.
- Tiết kiệm nước tưới. Có chế độ tưới nước hợp lý, tránh lãnh phí nguồn nước. Chú ý sử dụng các giống có khả năng chống chịu hạn. Có hệ sinh thái cây che phủ phù hợp.
Những biện pháp đã nêu ở trên sẽ tiến tới một nền sản xuất sạch, an toàn, đặc biệt là sẽ sản xuất ra được sản phẩm cà phê hữu cơ khi có khách hàng yêu cầu để nâng cao được lợi nhuận từ những sản phẩm mới.
6. Tôn trọng hệ sinh thái tổng hợp theo yêu cầu sinh lý của cây cà phê.
Trong vùng trồng cà phê phải có hệ đai rừng, cây che bóng, cây che phủ mặt đất để điều hòa ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giảm tốc độ gió, hạn chế xói mòn và rửa trôi, giữ nước, cung cấp chất hữu cơ cho vườn cây. Ở những nơi đã phá rừng để trồng cà phê nếu hiện nay không trồng cà phê thì phải lập lại thảm thực bì bằng những cây lâu năm hay cây rừng, đặc biệt là ở những nơi đất có độ dốc cao.
7. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và đổi mới thiết bị, công nghệ. Cần phải xây dựng đủ sân phơi hoặc các phương tiện khác như trên giàn, không phơi cà phê trực tiếp trên nền đất làm giảm chất lượng cà phê.
Cần phải có kế hoạch đầu tư để thay thế các thiết bị chế biến, sấy, phân loại đã quá cũ, lạc hậu bằng những thiết bị mới mang tính năng tốt hơn tại các trung tâm chế biến, phân loại, đóng bao bì. Trong công nghệ chế biến ướt phải có công trình xử lý nước thải tốt để tránh làm ô nhiễm môi trường. Các kho tàng bảo quản sản phẩm phải đảm bảo các thông số kỹ thuật cần thiết, đặc biệt là chế độ nhiệt và ẩm độ để tránh nấm mốc gây độc hại mà thị trường nghiêm cấm không được có trong sản phẩm và cà phê xuống phẩm cấp trong quá trình bảo quản.
8. Xây dựng chính sách giá cả trong thu mua sản phẩm
Cà phê quả tươi có tỷ lệ chín cao, ít tạp chất thì mua với giá cao. Quả xanh chiếm tỷ lệ cao, nhiều tạp chất thì giá thấp hoặc không thu mua. Tổ chức những nơi thu mua và chế biến tập trung (công ty, hợp tác xã, trung tâm chế biến) là biện pháp tổ chức để quản lý chặt chẽ chất lượng và giá cả thu mua.
Cà phê nhân sống khi thu mua phải theo tiêu chuẩn đã được quy định: độ ẩm, khuyết tật (đen, nâu, sâu, vỡ, đá, cành, mảnh vỏ, hạt bạc bụng...). Chống tranh mua, tranh bán dễ dẫn tới cà phê của Việt Nam kém chất lượng trên thị trường thế giới. Thực tế hàng triệu bao cà phê của Việt Nam đã bị trả lại, khách hàng khước từ ở nơi nhận hàng tại Châu Âu.
Tiến tới thu mua cà phê nhân sống còn phải qua khâu thử nếm cà phê tách thì mới đánh giá chuẩn xác được chất lượng của lô hàng cà phê nhân (thơm, đậm đà, dịu, gắt, mùi đất, khét, mùi cỏ, nước cống rãnh...). Điều này rất quan trọng khi thường hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột” được buôn bán trên thị trường với khối lượng lớn.
Nguyên tắc chung: Chất lượng cao thì trả giá cao. Chất lượng thấp thì trả giá thấp.
Có như vậy mới thật sự khuyến khích người sản xuất có cà phê chất lượng cao. Hy vọng băng giải pháp về giá cả và tổ chức quản lý mới có thể xoay chuyển được cái vòng lẩn quẩn của cà phê nước ta từ trước đến nay là chất lượng không ổn định, bị ép giá trên thị trường thế giới. Các chuyên gia thế giới đều đánh giá thống nhất: nếu thu hái và chế biến tốt thì cà phê của Việt Nam có chất lượng tốt, bởi vì chất lượng thấp là do con người tạo ra chứ không phải bản chất của hạt cà phê.
9. Xây dựng hệ thống tổ chức để đảm bảo thương hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột” có được chất lượng cao và luôn ổn định trên thương trường.
Xây dựng mạng lưới tổ chức sản xuất theo một quy trình thống nhất, có sự hướng dẫn và kiểm tra chặt chẽ để những đơn vị, cá nhân tham gia trong mạng lưới sản xuất ra cà phê mang thương hiệu Buôn Ma Thuột phải luôn đồng nhất về tiêu chuẩn và chất lượng. Nếu công việc này không làm chặt chẽ và công phu tất yếu sẽ dẫn tới làm tổn thương đến uy tín của thương hiệu và kinh doanh kém hiệu quả.
Nên chăng có một tập đoàn hoặc hiệp hội sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê của tỉnh Dak Lak vì sản lượng cà phê của Dak Lak chiếm trên 50% sản lượng cà phê cả nước, đồng thời là nơi có điều kiện khá lý tưởng để cà phê ở Dak Lak có chất lượng cao (đất đai, độ cao, địa hình, nhiệt độ, ánh sáng...).
10. Công tác tiếp thị, giới thiệu, quảng bá sản phẩm
Cần có những hình thức tiếp thị, quảng bá, tuyên truyền rộng rãi các dạng sản phẩm và thương hiệu của cà phê Dak Lak trên thị trường trong nước và quốc tế. Không nhất thiết tại Dak Lak chỉ có một vài thương hiệu cà phê mà ngược lại có thể có nhiều loại thương hiệu mang những đặc trưng khác nhau ở những vùng và đơn vị khác nhau như cà phê Trung Nguyên, Mêhico, Victoria, Nam Nguyên, Trúc Tâm...
Các nội dung đã nêu ở trên nếu được các nhà quản lý ở cấp tỉnh, các nhà sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu quan tâm giải quyết một cách đồng bộ bằng những kế hoạch triển khai, đặc biệt là về mặt tổ chức, kiểm tra và bước đi cụ thể thì có cơ sở để tạo ra một nền sản xuất kinh doanh bền vững trong sản xuất cây cà phê - một thế rất mạnh của tỉnh Dak Lak, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập.