Đoàn Kim Ca
Trưởng phòng Quản lý CN&SHTT
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, tiến bộ khoa học công nghệ đã từng bước chiếm lĩnh và đóng vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế thế giới. Bước sang thế kỷ 21, xã hội loài người đã bước sang một kỷ nguyên mới, nền kinh tế dựa trên tri thức. Nhu cầu phát triển các sản phẩm hàng hóa có hàm lượng trí tuệ cao đòi hỏi cần phải được bảo hộ về mặt pháp lý đang trở nên cấp thiết.
Bảo hộ tài sản trí tuệ đang trở thành những yêu cầu cấp bách không những cho chính nội tại của quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội tham gia hội nhập mà đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quan hệ kinh tế quốc tế trong bối cảnh cạnh tranh thương mại và bảo hộ đầu tư.
Việt Nam, 20 năm qua cùng với công cuộc đổi mới, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đang được chuẩn hóa dần; các điều luật quy định bảo đảm quyền SHTT đang ngày càng được hoàn thiện. Hoạt động trong lĩnh vực SHTT đã trở nên sôi động, đa dạng và bắt kịp với các quy định của luật pháp quốc tế. Luật Sở hữu trí tuệ của nước ta (bắt đầu có hiệu lực từ 01/7/2006) là một đạo luật chuyên ngành, hệ thống hóa khá đầy đủ các văn bản pháp luật về SHTT từ trước tới nay, đảm bảo phù hợp với hệ thống luật của nhiều nước trên thế giới. Đây là công cụ quan trọng nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và là chuẩn mực để bảo hộ cho việc thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ.
SHTT là sở hữu tài sản được tạo ra từ thành quả lao động sáng tạo do trí tuệ con người tạo nên. Bảo hộ SHTT chính là sự thừa nhận của pháp luật dành cho người tạo ra các thành quả sáng tạo đó. Quyền SHTT là quyền được pháp luật thừa nhận đối với các đối tượng được sở hữu. Nội dung quyền SHTT thường là độc quyền sử dụng, khai thác và chuyển giao thành tựu sáng tạo đó trong một thời gian nhất định. Quyền SHTT được chia thành 2 loại: quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm các đối tượng sau đây:
- Quyền tác phẩm (quyền tác giả và các quyền liên quan):
+ Quyền tác giả đối với các tác phẩm trong mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, khoa học;
+ Các quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của người biểu diễn đối với chương trình biểu diễn; quyền của người ghi âm, và quyền của các tổ chức phát hành.
- Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm:
+ Quyền đối với các thành tựu sáng tạo công nghệ (sáng chế; giải pháp hữu ích; kiểu dáng công nghiệp; bí mật kinh doanh; bố trí mạch tích hợp và bán dẫn; giống cây trồng);
+ Quyền đối với các chỉ dẫn thương mại (nhãn hiệu hàng hóa; chỉ dẫn địa lý bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa và tên thương mại).
1. Quyền SHTT cần được bảo hộ đối với doanh nghiệp
Để mở rộng sản xuất tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp cần phải chủ động khẳng định vị trí và không ngừng cải tiến đổi mới công nghệ. Để làm được điều đó doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí rất lớn ban đầu cho các hoạt động nghiên cứu triển khai và đổi mới công nghệ; cải tiến mẫu mã kiểu dáng, nâng cao chất lượng sản phẩm và hy vọng sản phẩm mới sẽ có sức cạnh tranh trên thị trường. Đi cùng với nó là một chương trình quảng bá, tiếp thị rất tốn kém nhằm làm cho sản phẩm trở nên nổi tiếng và hướng sự chú ý đến với người tiêu dùng. Ngược lại, khi sản phẩm đã nổi tiếng, nhiều doanh nghiệp khác sẽ không bỏ lỡ cơ hội chớp lấy thời cơ sao chép sản phẩm (làm nhái, làm giả) và tung ra thị trường những sản phẩm tương tự có khả năng cạnh tranh cao hơn, bởi giá bán sẽ thấp hơn, vì không phải tốn kém chi phí đầu tư ban đầu; sẽ làm cho sản phẩm của doanh nghiệp chính hãng có nguy cơ bị thua lỗ, gây thiệt hại và dẫn đến phá sản. Chính vì vậy, việc bảo hộ quyền SHTT đối với thành quả đầu tư sáng tạo sẽ dành cho bạn có cơ hội độc quyền, được khai thác sản phẩm mới trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và thu lãi tái mở rộng sản xuất.
2. Khai thác hiệu quả quyền SHTT
Trong nhiều trường hợp, các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ, chủ sở hữu là các doanh nghiệp mới chỉ khai thác được một phần tài sản của mình đó là việc sử dụng cho chính mục đích sản xuất và thương mại của chủ sở hữu. Việc khai thác quyền SHTT như vậy sẽ rất hạn chế đến hiệu quả và việc thu hồi chi phí. Trong thực tế, ngoài việc củng cố và nâng cao giá trị quyền SHTT, nhất là đối với tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý thì việc cho phép người khác sử dụng đối tượng SHTT của mình (còn gọi là chuyển giao li-xăng) là một hình thức khai thác quyền SHTT một cách gián tiếp, qua đó doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu sẽ thu về một khoản lợi nhuận gồm phí chuyển giao li-xăng và các lợi ích vật chất khác mà không phải trực tiếp sử dụng đối tượng SHTT của mình. Hình thức này đặc biệt thích hợp khi doanh nghiệp không đủ năng lực đáp ứng. Một hình thức khai thác khác đó là chuyển nhượng toàn bộ quyền SHTT của mình để đổi lấy một khoản tiền nhất định (hoặc bằng một giá trị vật chất nhất định). Việc chuyển nhượng quyền SHTT thích hợp khi doanh nghiệp không muốn hoặc không đủ năng lực để khai thác quyền đó.
Việc chuyển giao li-xăng cũng như chuyển nhượng quyền quyền SHTT đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức ký kết hợp đồng và phải được đăng ký tại Cục SHTT.
Để khai thác hiệu quả quyền SHTT, đòi hỏi doanh nghiệp phải thu thập, cập nhật đầy đủ các thông tin cần thiết về SHTT, về đối tượng dự định sẽ khai thác. Đặc biệt cần lưu ý có đầy đủ các thông tin về các quy định pháp luật, các quyền SHTT được xác lập cho người khác trong lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp quan tâm.
SHTT đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. để khai thác và sử dụng có hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng và thực hiện chiến lược SHTT phù hợp với chiến lược tổng thể kinh doanh của doanh nghiệp. Muốn vậy, cần phải cân nhắc thận trọng, xem xét mọi khả năng khía cạnh của hệ thống SHTT với mục tiêu, nhiệm vụ và chiến lược kinh doanh của mình để định ra những bước đi phù hợp, nhằm tránh sự lãng phí trong đầu tư, nhưng cũng không để quá muộn khi sản phẩm đã tung ra thị trường, thương hiệu đã được nhiều người biết đến mà các thủ tục pháp lý về quyền SHTT chưa được thừa nhận. Tệ hơn là khi doanh nghiệp muốn sử dụng thương hiệu tương tự nhưng đã thuộc quyền sử dụng của người khác.