Đối với cây điều, mặc dù được đưa vào Dak Lak muộn hơn các tỉnh bạn, song Trung tâm đã nhanh chóng áp dụng các kỹ thuật tiến bộ: ghép áp nhân giống điều bằng những dòng điều đầu dòng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép khu vực hoá ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên như: ĐH1, LG-1, CH1... xây dựng một số vườn nhân giống điều tại các vùng nguyên liệu trọng điểm của tỉnh như: Ea Sup, Buôn Đôn, Cư M’Gar. Đến nay, Dak Lak là một trong những tỉnh có diện tích điều ghép lớn nhất toàn quốc.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, các chương trình sind hoá đàn bò, nạc hoá đàn heo đã được thực hiện có hiệu quả. Tính đến năm 2005, số bò lai đạt 17.800 con. Hiện nay, Dak Lak đã xuất heo thịt đi các tỉnh bạn. Các giống gà có năng suất cao: Lương phượng, Tam hoàng, gà thả vườn cũng đã được Trung tâm chuyển giao kỹ thuật sản xuất cho bà con nông dân.
Trong lĩnh vực công nghiệp, Trung tâm đã đưa nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như: ứng dụng công nghệ tinh chế gỗ cao su xuất khẩu; công nghệ sản xuất ván ghép thanh, ván dán, ván dăm tận dụng phế phẩm trong sản xuất gỗ. Kết quả đề tài “Lò nung gạch liên tục kiểu đúng” đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt, đặc biệt trong việc giảm đáng kể nạn chặt phá rừng làm nhiên liệu đốt lò. Nhiều đoàn của hơn 20 tỉnh bạn đã đến tham quan, học tập mô hình này, và Trung tâm đang chuyển giao công nghệ cho tỉnh An Giang. Ngoài ra, Trung tâm còn kết hợp với các nông, lâm trường thực hiện các hợp đồng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, giải quyết nhu cầu phân bón cho nông nghiệp và làm sạch môi trường.
Ứng dụng công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM), Trung tâm kết hợp với các công ty cà phê tận dụng nguồn vỏ cà phê làm phân bón hữu cơ vi sinh vừa giải quyết nhu cầu phân bón, giữ độ ẩm vườn cây vừa đảm bảo canh tác theo hướng bảo vệ môi trường. Sử dụng EM vào việc giải quyết ô nhiễm môi trường; xử lý chất thải cho các nhà máy như: Nhà máy tinh bột sắn, Nhà máy cao su, rác thải y tế, rác thải của các trung tâm huyện, thành phố Buôn Ma Thuột. Ngoài ra, Trung tâm còn tham gia giám định và đánh giá tác động môi trường cho các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn.
Song song với nhiệm vụ ứng dụng chuyển giao, Trung tâm tham gia triển khai các đề tài nghiên cứu triển khai; các dự án thuộc chương trình nông thôn miền núi... Hầu hết các dự án, đề tài đều được nghiệm thu đánh giá kết quả xuất sắc như: Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình cơ sở nhân giống nấm và sản xuất nấm thương phẩm tại tỉnh Dak Lak; Khảo nghiệm ứng dụng các hợp phần kỹ thuật và xây dựng mô hình thâm canh cây lạc tại tỉnh Dak Lak; Xây dựng vườn nhân giống điều cung cấp chồi ghép bằng phương pháp ghép áp tại huyện Ea Soup… Kết quả của các dự án, đề tài làm cơ sở giúp xác định cơ cấu cây trồng, góp phần hình thành và phát triển các vùng nguyên liệu của tỉnh như tại Ea Soup, Buôn Đôn… Nhờ đó đồng bào ở những vùng dự án đã được hưởng lợi trong việc từng bước tiếp thu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để áp dụng vào trong sản xuất và đời sống.
Hoạt động thử nghiệm, dịch vụ của Trung tâm cũng đóng góp phần quan trọng tạo nguồn thu của đơn vị. Phòng Thử nghiệm của Trung tâm đã từng bước được nâng cấp, kiểm nghiệm được các sản phẩm phân bón, chất tẩy rửa, kiểm tra cường độ bê tông, xi măng, độ ẩm nông sản... Đối với công tác môi trường, Trung tâm thực hiện dịch vụ đo đếm các chỉ số đánh giá môi trường và an toàn bức xạ trong ngành Y tế. Cùng với bộ phận dịch vụ sửa chữa phương tiện đo, sản xuất chế phẩm EM, bộ phận Thử nghiệm hàng năm đóng góp một phần đáng kể cho doanh thu của đơn vị, giải quyết tiền lương cho cán bộ mà Trung tâm phải tự trang trải.
Trong năm tới, để chủ động hơn trong việc nâng cao chất lượng công tác ứng dụng chuyển giao, Trung tâm đã và đang liên hệ xin quỹ đất để thành lập Trại thực nghiệm sản xuất nông, lâm, công nghiệp góp phần chủ động và đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật đến với sản xuất. Với những hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của mình, từ ngày thành lập Trung tâm đã từng bước tích lũy nguồn vốn để hoạt động và tự trang trải cho đầu tư nâng cấp nguồn lực của Trung tâm ngang tầm với nhiệm vụ và yêu cầu của việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất. Năm 2006 - 2007, đơn vị sẽ hình thành đề án xây dựng, nâng cấp nguồn lực Trung tâm với mức kinh phí khoảng 2,7 tỷ đồng bằng nguồn vốn sự nghiệp KHCN TW được cân đối qua ngân sách tỉnh. Với việc thực hiện đề án này, Trung tâm sẽ nâng cao năng lực hoạt động của đơn vị, dần chuyển đơn vị từ một đơn vị sự nghiệp KH&CN thành một doanh nghiệp KH&CN, trọng tâm là:
- Tăng cường nguồn nhân lực, đào tạo chuyên sâu cho cán bộ chuyên môn; đầu tư xây dựng phòng làm việc, phòng thí nghiệm, trang thiết bị cho các lĩnh vực công nghệ sinh học, thử nghiệm, hệ thống thông tin của Trung tâm.
- Nâng cao năng lực của Trung tâm về mặt trình độ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, thực hiện các dịch vụ công có chất lượng cao phục vụ sản xuất và đời sống.
Mục tiêu cụ thể:
- Nâng cao năng lực của Trung tâm về mọi mặt: điều hành, quản lý, thực hiện các nhiệm vụ ứng dụng chuyển giao, các dịch vụ công.
- Xây dựng Phòng Công nghệ sinh học mạnh để sản xuất các chế phẩm sinh học ứng dụng vào sản xuất và đời sống, phân tích được các chỉ số vi sinh vật trong các sản phẩm.
- Xây dựng Phòng Kiểm nghiệm đủ năng lực kiểm nghiệm: vi sinh, hoá lý, nông sản, thực phẩm, vật liệu xây dựng ngày càng có uy tín tại địa phương và khu vực.
Qua một thời gian dài hoạt động, với những thành công và cả những mặt chưa làm được, Trung tâm nhận thấy để nâng cao năng lực hoạt động, xứng đáng là đơn vị sự nghiệp khoa học cung cấp cho xã hội các dịch vụ công có chất lượng cao, cần có những giải pháp và đề xuất như sau:
- Có chính sách đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ chuyên sâu về chuyên môn. Cán bộ Trung tâm cần am hiểu nhiều lĩnh vực chuyên môn như: nông nghiệp, công nghiệp, tin học… Với thế mạnh trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt, Trung tâm cần được đào tạo thêm về công nghệ sinh học, vì công nghệ sinh học dễ đi vào sản xuất nông nghiệp và nhanh chóng đưa lại hiệu quả. Tích cực cập nhật, nghiên cứu các công nghệ mới để áp dụng cho địa phương.
- Cần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học của Nhà nước, tích cực tìm tòi mở rộng thị trường KH&CN để tìm kiếm nguồn thu trang trải kinh phí hoạt động và phát triển của đơn vị sự nghiệp, tăng cưòng các hoạt động dịch vụ, lấy thu bù chi.
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho Trung tâm, cụ thể như: phòng Thử nghiệm, kiểm nghiệm, cán bộ các phòng thử nghiệm phải được đào tạo thêm về chuyên môn để đáp ứng nhu cầu công việc, đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công nghệ sinh học nhằm đảm bảo các phòng thử nghiệm đạt tiêu chuẩn cấp vùng về kiểm nghiệm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và công tác chuyên môn.
- Được uỷ quyền kiểm định một số loại hình dụng cụ, phương tiện đo, tạo thêm việc làm cho cán bộ của Trung tâm.
- Tăng nguồn kinh phí để đầu tư sản xuất các mặt hàng thế mạnh, làm công tác tư vấn KH&CN trong các lĩnh vực giống cây, con và tư vấn kỹ thuật trong báo cáo, đăng ký đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường.
- Tăng cường công tác trao đổi, tham quan, học hỏi lẫn nhau, hợp tác giữa các trung tâm, tìm hiểu cách làm của các trung tâm hoạt động có hiệu quả để áp dụng cho địa phương mình.