Thực hiện Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/03/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 188/2005/QĐ-TTg ngày 22/7/2005 về ban hành chương trình hành động của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng “Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đến năm 2020”. Các văn bản trên là định hướng quan trọng cho các địa phương xây dựng nhiệm vụ và các giải pháp để phát triển CNSH phục vụ nông nghiệp, nông thôn nhằm góp phần tạo ra những đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp, tạo cơ sở để chuyển nhanh nền nông nghiệp địa phương theo hướng CNH-HĐH.
1. Một số thành tựu
Nền nông nghiệp tỉnh Dak Lak trong thời gian qua đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ nhất là trong lĩnh vực CNSH như giống cây trồng vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; các chế phẩm sinh học phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản; các vắc xin phòng ngừa dịch bệnh động vật.
Ngành nông nghiệp đã áp dụng rộng rãi các giống mới về cây ngắn ngày như lúa, ngô, bông, đậu đỗ... công nghệ sản xuất hạt giống lai F1 cho ngô, lúa đã được tiếp nhận và áp dụng thành công góp phần chủ động một phần nguồn giống, giảm giá thành. Đối với cây công nghiệp dài ngày như cà phê, điều, cao su, cây ăn quả... giống mới chất lượng cao và qui trình nhân giống ghép đã áp dụng rộng rãi trên hàng chục ngàn ha. Đây tuy là CNSH truyền thống nhưng đã góp phần quyết định vào nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Công nghệ sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu đã được áp dụng thành công và chuyển giao trên diện rộng, tận dụng các phế phụ phẩm trong nông nghiệp như cám, trấu, mùn cưa, lõi ngô, vỏ cà phê...
Trong chăn nuôi, ngoài sử dụng giống mới trong sản xuất đại trà như lợn lai F1, bò lai hướng thịt, gà siêu trứng... việc áp dụng các loại vắc xin phòng dịch tụ huyết trùng, tả, phó thương hàn, lở mồm long móng đã được phổ cập giúp giữ vững và tăng nhanh đàn gia súc. Tinh cộng rạ cũng đã được áp dụng để phối giống lợn, bò.
Công nghệ vi sinh đã được áp dụng mạnh mẽ trong việc chế biến các loại phân bón hữu cơ chứa vi sinh vật. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 17 dây chuyền công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh với sản lượng hàng năm từ 18-20 ngàn tấn, góp phần tăng năng suất, chất lượng cây trồng và nâng cao tính bền vững về môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Các chủng vi sinh vật còn được tiếp tục phân lập và nhân nuôi để bước đầu áp dụng vào sản xuất đất sạch, phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao từ nguồn vỏ quả cà phê. Các chế phẩm từ Oligosaccharides đã được sản xuất thành công và áp dụng vào nông nghiệp như chất kích thích tăng trưởng thực vật, tăng khả năng đề kháng bệnh. Rượu vang từ vỏ cà phê tươi cũng là sản phẩm được sản xuất thử nhờ công nghệ vi sinh. Một số dòng nấm đối kháng như Trichoderma đang được thử nghiệm trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Ứng dụng một số chế phẩm vi sinh vật bổ sung thức ăn gia súc, gia cầm.
Trong lâm nghiệp, cây hông (Paulownia) nuôi cấy mô đã được trồng thử nghiệm. Giống bạch đàn, keo lai nhân từ mô phân sinh kết hợp với giâm hom cũng đã được trồng thử nghiệm trên hàng chục ha.
Sản xuất nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường nhờ hai ứng dụng thành công từ công nghệ vi sinh là hầm khí biogas kết hợp vi sinh phân giải hữu cơ để sản xuất phân bón tại các cơ sở chăn nuôi qui mô lớn. Đặc biệt, EM đã được áp dụng rất thành công gần 10 năm nay để xử lý phế phẩm nông nghiệp và nước thải ở các nhà máy chế biến nông lâm sản.
2. Hạn chế
Tuy nhiên so với tiềm năng phát triển và yêu cầu của sản xuất, đời sống CNSH trong nông nghiệp tỉnh nhà vẫn còn đang đứng trước những khó khăn, thách thức to lớn, đó là:
- Thứ nhất, hạn chế về nguồn nhân lực. Lực lượng nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao CNSH chiếm tỷ lệ còn thấp so với tổng số nhân lực khoa học công nghệ, lại tập trung chủ yếu ở cơ quan trung ương đóng trên địa bàn. Lĩnh vực CNSH hiện đại rất thiếu các cán bộ đầu đàn và thiếu hẳn những cán bộ có trình độ chuyên sâu về CNSH, rất ít người được đào tạo cơ bản cũng như cập nhật công nghệ mới.
- Thứ hai, hạn chế về đầu tư. CNSH là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư cao, tập trung và đồng bộ. Nhìn lại các cơ sở do tỉnh quản lý hầu như chưa có đầu tư gì đáng kể. Đầu tư kinh phí nghiên cứu chuyển giao còn thấp, lại dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước. Kinh phí thấp nên chỉ tập trung vào CNSH truyền thống, hàm lượng công nghệ thấp.
- Thứ ba, hạn chế về công nghệ. Thông thường công nghệ là được chuyển giao từ các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao đầu ngành. Theo đánh giá chung vẫn ít có công nghệ mang tính đột phá, một số công nghệ chưa thật sự ổn định. Kiểm soát qui trình và dây chuyền công nghệ hầu như còn buông lỏng, đặc biệt là trong công nghệ vi sinh.
- Thứ tư, hạn chế về tổ chức triển khai. Trên địa bàn tỉnh có một số cơ sở nghiên cứu - đào tạo - chuyển giao có liên quan CNSH của các Bộ, Ngành, nhưng sự phối hợp chưa hiệu quả. Ngoài công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh thì chưa có sản phẩm nào được sản xuất ở qui mô công nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do chưa nhận thức đầy đủ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và của xã hội về vai trò, vị trí quan trọng của CNSH đối với địa phương. Việc cụ thể hoá và thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển CNSH còn chậm, chưa triệt để và toàn diện; chưa có kế hoạch tổng thể phát triển CNSH và công nghiệp sinh học; chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ, Ngành, địa phương và các cơ quan nghiên cứu chuyển giao trên địa bàn tỉnh nhà; chưa có chính sách thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư phát triển công nghệ và công nghiệp sinh học.
3. Quan điểm phát triển
- CNSH có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH nông thôn, góp phần nâng cao vị thế nền nông nghiệp tỉnh nhà, vì vậy nghiên cứu và phát triển CNSH nông nghiệp là lĩnh vực cần được ưu tiên.
- Phát triển CNSH trong nông nghiệp nhằm vừa khai thác tối ưu, vừa bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên sinh vật của địa phương.
- Phát triển CNSH trong nông nghiệp trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các thành tựu trong và ngoài nước áp dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnh nhà. Chú trọng đi ngay vào những công nghệ tiên tiến ở qui mô vừa và nhỏ, đồng thời từng bước hiện đại hoá công nghệ truyền thống.
- CNSH là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư cao nên cần phải có sự chọn lựa để đầu tư đúng hướng, đúng mức và đồng bộ. Sản phẩm trọng tâm là: Giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất lợi của môi trường; các chế phẩm sinh học phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản chế biến nông sản; các loại vắc xin phòng ngừa dịch bệnh động vật. Công nghệ chủ lực là: công nghệ vi nhân giống và công nghệ vi sinh.
- Cần tạo điều kiện cho sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học-sản xuất thử-thương mại hóa sản phẩm (công nghiệp sinh học). Cần có chính sách phù hợp đối với ngành Công nghiệp sinh học nông nghiệp vì đối tượng phục vụ chủ yếu là nông dân.
4. Mục tiêu phát triển đến 2010
- Nghiên cứu ứng dụng có chọn lọc về giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao phục vụ tốt nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá, tăng nhanh tỷ lệ nông lâm sản chế biến, nhất là chế biến phục vụ xuất khẩu, phát triển bền vững các hàng hoá nông sản chủ lực của tỉnh.
- Xây dựng được một số cơ sở công nghiệp sinh học qui mô vừa hoặc nhỏ để có thể tiếp nhận công nghệ vi sinh, công nghệ nhân giống với mục tiêu có thể sản xuất tại chỗ một số giống cây trồng, cây lâm nghiệp, nấm ăn, sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Ứng dụng kít chẩn đoán bệnh động thực vật, vắc xin cho vật nuôi... Đưa vào sản xuất một số giống cây trồng, vật nuôi được chọn tạo bằng kỹ thuật sinh học phân tử.
- Về tiềm lực KHCN, đào tạo được một đội ngũ cán bộ CNSH chuyên sâu về một số lĩnh vực chủ yếu, đặc biệt đào tạo phổ cập lực lượng ứng dụng CNSH ở cơ sở sản xuất. Nâng cấp, mở rộng các phòng thí nghiệm ứng dụng.
- Tạo ra một phong trào ứng dụng CNSH rộng rãi trong nông nghiệp và nông thôn, có sự liên kết hiệu quả giữa các đơn vị nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao trên địa bàn.
5. Giải pháp phát triển CNSH
5.1 Triển khai các đề tài nghiên cứu và dự án sản xuất thử nghiệm, phát triển công nghiệp sinh học
Trên cơ sở chương trình ứng dụng CNSH trong chiến lược KHCN giai đoạn 2005-2010, ưu tiên cho các đề tài tạo ra và ứng dụng các giống cây trồng và vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng góp thiết thực vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển bền vững các cây, con chủ lực của tỉnh.
Sản xuất ở qui mô thích hợp và có chọn lọc một số chế phẩm phân bón, chế phẩm bảo vệ cây trồng.
Ứng dụng một số công nghệ bảo quản và chế biến nông lâm sản, tập trung vào các loại rau, hoa và quả có thể tiêu thụ ở ngoài tỉnh.
Áp dụng tổng hợp các tiến bộ CNSH để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, sản phẩm “sạch” theo các tiêu chí để được chứng nhận nhằm làm tăng giá trị và sức cạnh tranh của nông sản.
Mở rộng ứng dụng vắc xin thế hệ mới trong phòng chống dịch vật nuôi, ứng dụng thiết bị hiện đại trong chẩn đoán một số dịch bệnh vật nuôi nguy hiểm.
Tập trung ứng dụng rộng rãi hơn nữa công nghệ biogas, kết hợp sử dụng vi sinh sản xuất phân bón ở các trại chăn nuôi.
Ứng dụng các chế phẩm vi sinh thế hệ mới trong xử lý rác thải, phế thải hữu cơ, nước thải nhà máy công nghiệp, nhất là ở các nhà máy chế biến cà phê và tinh bột sắn, các công trình vệ sinh nông thôn, lò giết mổ.
Ứng dụng rộng rãi các chế phẩm phân bón hữu cơ vi sinh trong chương trình hữu cơ hoá đất nông nghiệp, bảo vệ bền vững tài nguyên đất.
Hỗ trợ phát triển công nghiệp vi nhân giống, công nghiệp sản xuất các chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật, phân bón sinh học, chế biến thức ăn gia súc... dưới hình thức hỗ trợ đầu tư các dự án sản xuất, dự án chuyển giao công nghệ. Tiếp tục duy trì, nâng công suất và chất lượng sản phẩm của những nhà máy sản xuất phân hữu cơ vi sinh đang có. Quy hoạch và đầu tư phát triển thêm những nhà máy quy mô vừa và nhỏ sản xuất chế phẩm vi sinh bảo vệ thực vật, vắc xin, chế biến thực phẩm lên men; chế phẩm vi sinh xử lý rác thải, phế phẩm nông nghiệp, chất thải khu vực nhà máy.
5.2. Đẩy mạnh xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ cho CNSH
- Đối với nguồn nhân lực, phát huy nguồn nhân lực hiện có đồng thời tăng cường công tác đào tạo tại các Trường đại học và Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng trên địa bàn, đưa đội ngũ cán bộ làm CNSH tăng 1,5 lần, chú ý đào tạo cán bộ đầu đàn trình độ Thạc sỹ và Tiến sỹ trong nước và ngoài nước. Cử cán bộ địa phương về đào tạo ngắn hạn tại các Viện, Trường, các doanh nghiệp công nghiệp sinh học có uy tín tại các trung tâm công nghiệp lớn ở trong nước.
-Trên cơ sở các phòng thí nghiệm hiện có, nâng cấp và bổ sung các trang thiết bị cần thiết đủ sức triển khai nghiên cứu, ứng dụng, giảng dạy. Thành lập một trung tâm CNSH ứng dụng của tỉnh gắn với khu nông nghiệp công nghệ cao.
- Đẩy mạnh hoạt động của Trung tâm Giống cây trồng, vật nuôi; Trung tâm Ứng dụng KHCN tỉnh.
5.3. Vốn đầu tư, cơ chế và chính sách
- Dự kiến kinh phí cho chương trình ứng dụng CNSH giai đoạn 2005-2010 là 40 tỉ đồng, chia ra cho các hoạt động chính như sau:
+ Cho nghiên cứu ứng dụng và sản xuất thử: 15 tỉ đồng
+ Cho đào tạo nguồn nhân lực: 04 tỉ đồng
+ Cho tăng cường cơ sở vật chất/trang thiết bị: 20 tỉ đồng
+ Cho các hoạt động khác (hợp tác quốc tế, tuyên truyền): 01 tỉ đồng
- Đa dạng hóa nguồn vốn phục vụ cho nghiên cứu và phát triển CNSH:
+ Vốn ngân sách Nhà nước địa phương và Trung ương
+ Vốn hợp tác quốc tế
+ Vốn huy động từ các doanh nghiệp chủ yếu cho giai đoạn ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào phát triển các sản phẩm có giá trị thương mại.
- Các hình thức đầu tư cho CNSH bao gồm:
+ Đầu tư thiết bị cho nghiên cứu ứng dụng và đào tạo, các đề tài nghiên cứu ứng dụng: sử dụng 100% ngân sách sự nghiệp khoa học và hợp tác quốc tế.
+ Các dự án sản xuất thử nghiệm: áp dụng quy chế cho các dự án có thu hồi 60% kinh phí.
+ Các dự án Công nghiệp sinh học: nhà nước hỗ trợ theo chính sách cho chương trình kinh tế kỹ thuật có tính đến đặc thù của CNSH nông nghiệp.
+ Chính sách hỗ trợ của tỉnh trong đào tạo các bộ khoa học trình độ cao.
+ Đầu tư hỗ trợ thúc đẩy thực thi các quy định về Sở hữu trí tuệ.
5.4. Giải pháp tổ chức thực hiện
- Các cấp uỷ Đảng có kế hoạch thực hiện tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, các ngành, các cấp và nhân dân địa phương về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của CNSH trong sự nghiệp CNH-HĐH. Tổ chức các hội nghị, hội thảo về CNSH ở địa phương.
- UBND tỉnh giao cho Sở KH&CN chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổng thể phát triển CNSH và công nghiệp sinh học trong nông nghiệp của tỉnh đến 2010 và định hướng đến 2020. Xây dựng và áp dụng các chính sách ưu đãi cho việc mở các doanh nghiệp CNSH qui mô vừa và nhỏ, nhất là các doanh nghiệp sản xuất các chế phẩm phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Chính sách khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động ứng dụng chuyển giao tiến bộ mới trong CNSH vào sản xuất nông lâm nghiệp. Chính sách thu hút, đa dạng hoá các nguồn đầu tư. Tạo cơ chế gắn kết giữa các cơ quan trung ương với địa phương nhằm phát huy cao tiềm lực con người, trang thiết bị, tránh có sự trùng lắp, chồng chéo trong nghiên cứu và triển khai.