Trong những năm qua, để đẩy mạnh việc phát triển khoa học và công nghệ, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về KH&CN. Các chủ trương, chính sách của Đảng về KH&CN đã được thể chế hoá trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000. Trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này và trong nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan, có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010”, với mục tiêu “Tập trung xây dựng nền khoa học và công nghệ nước ta theo hướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trong khu vực vào năm 2010, đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, ngày 28/9/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ”. Với Quyết định này, Chính phủ khẳng định quyết tâm tạo ra sự thay đổi căn bản trong quản lý KH&CN để đẩy nhanh sự phát triển KH&CN, giải quyết bằng được những nhiệm vụ cơ bản đã được khởi xướng trong nhiều năm trước cũng như những yêu cầu thực tiễn trước xu thế hội nhập hiện nay. Những nhiệm vụ chủ yếu như: (1) Hoàn thiện cơ chế xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN; (2) Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN; (3) Đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN; (4) Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực KH&CN; (5) Phát triển thị trường công nghệ; (6) Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước về KH&CN.
I. Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc đổi mới cơ chế quản lý KH&CN
1. Mục tiêu
- Mục tiêu tổng quát: Từ nay đến năm 2010, tiếp tục đổi mới, tạo bước chuyển biến cơ bản trong quản lý KH&CN phù hợp với cơ chế thị trường, với yêu cầu chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và đặc thù của hoạt động KH&CN, nhằm nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả hoạt động và tăng cường tiềm lực KH&CN, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển bền vững với tốc độ nhanh của đất nước.
- Các mục tiêu cụ thể:
+ Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện đổi mới cơ chế quản lý KH&CN.
+ Hoàn thiện cơ chế xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN gắn với nhu cầu phát triển KT-XH và cơ chế đánh giá hoạt động KH&CN dựa trên tiêu chuẩn chất lượng khoa học và hiệu quả KT-XH.
+ Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập.
+ Phấn đấu đạt tỷ lệ ngang nhau giữakinh phí đầu tư cho KH&CN từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước.
+ Hoàn thành cơ bản các thể chế hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ, thúc đẩy mua bán, chuyển giao và đổi mới công nghệ.
+ Thực hiện chính sách trọng dụng, tôn vinh nhân tài trong hoạt động KH&CN.
+ Thực hiện cải cách hành chính, phân công, phân cấp và nâng cao vai trò điều phối của Chính phủ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước về KH&CN.
2. Các quan điểm cơ bản
- Chuyển mạnh quản lý KH&CN từ cơ chế hành chính, bao cấp sang cơ chế thị trường; tách biệt quản lý giữa khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong hệ thống KH&CN.
- Đẩy mạnh xã hội hoá, tạo môi trường bình đẳng cho mọi tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN.
- Gắn kết chặt chẽ sản xuất, kinh doanh với nghiên cứu, đào tạo; doanh nghiệp đóng vai trò là trung tâm ứng dụng và đổi mới công nghệ.
- Phát huy dân chủ, nâng cao tính sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong khoa học xã hội và nhân văn.
- Đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế hoạt động KH&CN, tiếp thu có chọn lọc tri thức khoa học, chuyển giao công nghệ, thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển KH&CN.
3. Các nguyên tắc cơ bản
- Bảo đảm sự đồng bộ giữa đổi mới cơ chế quản lý KH&CN với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xã hội.
- Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách rõ ràng và nhất quán, bảo đảm sự điều hoà, phối hợp, phân công, phân cấp và quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn giữa các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về KH&CN.
- Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực mạnh mẽ về vật chất và tinh thần cho các tổ chức và cá nhân hoạt động KH&CN trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Lấy chất lượng và hiệu quả KT-XH làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hoạt động KH&CN; tiến tới các tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế.
- Đảm bảo tính khả thi, coi trọng tổng kết thực tiễn trong quá trình thực hiện.
II. Hoạt động KH&CN ở địa phương – một số kết quả đạt được và định hướng trong quá trình thực hiện đổi mới cơ chế quản lý
1. Về hoàn thiện cơ chế xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN
Nội dung này được quy định khái quát trong Luật KH&CN, được cụ thể hoá một bước trong Nghị định số 81/2002/NĐ-CP và một số văn bản pháp luật khác liên quan. Đối với các địa phương, nội dung này còn khá mới mẻ và còn nhiều bất cập, như chưa quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xác định nhiệm vụ KH&CN; thiếu cơ chế hữu hiệu để khắc phục tình trạng trùng lặp nhiệm vụ KH&CN giữa các ngành, các cấp...
Với vai trò là cơ quan quản lý KH&CN ở địa phương, Sở KH&CN trong 5 năm trở lại đây đã từng bước thực hiện đổi mới hoạt động KH&CN, nổi bật là xác định và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN hàng năm. Cụ thể như sau:
a) Về xác định nhiệm vụ KH&CN: Trên cơ sở vận dụng Luật KH&CN và các văn bản liên quan, Sở KH&CN tiến hành xây dựng và tham mưu UBND Tỉnh ban hành các quy chế về quản lý và xét chọn các dự án, đề tài nghiên cứu KHCN, như: Quy chế tạm thời về việc xét chọn hồ sơ và thẩm định các chương trình, đề tài KHCN cấp tỉnh giai đoạn 2002-2005; Quy chế tạm thời về phương thức làm việc của Hội đồng KHCN xét chọn và thẩm định chương trình, đề tài cấp tỉnh giai đoạn 2002-2005; Quy định tạm thời về việc kiểm tra, thanh quyết toán các chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu KHCN; Quy chế về phương thức làm việc của Hội đồng KHCN xét chọn hồ sơ và thẩm định chương trình, đề tài cấp tỉnh giai đoạn 2005-2010.
Gần đây, Sở KH&CN đã tích cực tham mưu UBND Tỉnh phê duyệt Đề án “Phát triển khoa học và công nghệ tỉnh giai đoạn 2006 – 2010”. Đề án này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Dak Lak khoá VI, kỳ họp thứ 6 thông qua tại Nghị quyết số 33/2006/NQ-HĐND ngày 22/7/2006 và UBND tỉnh Dak Lak phê duyệt tại Quyết định số 43/2006/QĐ-UBND ngày 19/10/2006.
Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng giúp cho Sở KH&CN tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình.
b) Về phương thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN và đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện
Pháp luật hiện hành quy định ba phương thức thực hiện nhiệm vụ KH&CN, đó là: Tuyển chọn, giao trực tiếp và thông qua quỹ phát triển KH&CN. Hiện nay chúng ta đang triển khai áp dụng hai phương thức tuyển chọn và giao trực tiếp, còn phương thức thông qua quỹ phát triển KH&CN chưa thực hiện do chưa thành lập quỹ này.
Sở KH&CN Dak Lak đã chỉ đạo thực hiện việc xét chọn các dự án, đề tài nghiên cứu KHCN được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên mạng, đồng thời thông báo cho các Sở, ngành đăng ký thực hiện, trên nguyên tắc: Nội dung dự án, đề tài phải xuất phát từ thực tiễn, có tính khả thi; việc ký kết hợp đồng nghiên cứu KH&CN được thực thi theo các quy định hiện hành; việc nghiệm thu và công nhận kết quả theo Luật KH&CN. Với cách làm mới, khoa học, chú trọng hiệu quả KT-XH và được công khai, dân chủ đã có những tác động tích cực đối với các đơn vị, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN trong thời gian qua.
2. Đổi mới tổ chức và hoạt động, cơ chế, chính sách tài chính, nhân lực của các tổ chức KH&CN
Đây là một trong những khâu có tính đột phá để thúc đẩy phát triển KH&CN. Mục đích đổi mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của bản thân tổ chức KH&CN, của người đứng đầu tổ chức KH&CN; nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức KH&CN, của cá nhân hoạt động KH&CN; tạo điều kiện xây dựng tiềm lực KH&CN ngày càng phát triển.
Nội dung này ở Dak Lak đang trong giai đoạn tiếp cận và áp dụng. Theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn hai Nghị định trên, một số đơn vị sự nghiệp công lập đang xây dựng đề án thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính, tuy nhiên tiến độ còn chậm so với yêu cầu.
3. Phát triển thị trường công nghệ
Thị trường công nghệ không riêng gì các địa phương mà của cả nước tuy đã hình thành, nhưng còn rất khiêm tốn, thậm chí có thể nói là còn rất sơ khai. Vì thực tế hoạt động mua bán công nghệ và lưu thông các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế do thiếu nhiều tác nhân quan trọng, các yếu tố cấu thành thị trường và các quy định pháp lý cần thiết. Phần lớn các kết quả nghiên cứu chủ yếu áp dụng trong phạm vi hẹp và chưa tạo được nhiều công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hoá; hiệu lực thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ thấp; các doanh nghiệp chưa chú trọng để thực sự đóng vai trò là trung tâm ứng dụng và đổi mới công nghệ…
Tuy mới lần đầu thực hiện, song Sở KH&CN Dak Lak đã phối hợp với Sở KH&CN Tp.HCM tổ chức thành công Chợ công nghiệ - Thiết bị Tây Nguyên 2003 tại Tp.Buôn Ma Thuột, đã có nhiều công nghệ tiêu biểu của Dak Lak và một số tỉnh, thành trong khu vực tham gia, giới thiệu và chào bán. Hoạt động này đã góp phần tạo lập thị trường công nghệ ở địa phương.
4. Về bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực KH&CN
Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN nước ta cũng còn không ít bất cập so với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Biểu hiện cụ thể của sự bất cập là ở chỗ thiếu cơ chế cụ thể để điều phối hoạt động; hệ thống các cơ chế, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN còn thiếu, chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, lạc hậu so với thực tiễn…
Trong 3 năm qua, Sở KH&CN tỉnh Dak Lak đã tích cực tham mưu UBND Tỉnh về hình thành mạng lưới KH&CN cấp huyện. Nhờ đó, 12 huyện và thành phố Buôn Ma Thuột hiện đã có cán bộ kiêm nhiệm theo dõi hoạt động KH&CN ở địa phương. Hàng năm Sở KH&CN đã dành từ 50 - 70 triệu đồng cho mỗi huyện, và sự đầu tư này đang mang lại kết quả bước đầu, nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sống, góp phần nâng cao đời sống của người nông dân, của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh.