Ở nước ta, vấn đề nhập khẩu hàng hóa là một trong những nhiệm vụ có tính chiến lược đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung và của từng địa phương nói riêng. Các loại hình hàng hóa nhập khẩu chủ yếu trong thời gian qua là vật tư, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh... hạn chế việc nhập khẩu hàng hóa phục vụ mục đích tiêu dùng và sinh hoạt .
Qua các năm cho thấy giá trị nhập khẩu hàng hóa ngày càng có xu thế tăng dần, năm 2000 giá trị nhập khẩu là 15,6 tỷ USD, năm 2002 là 19,7 tỷ, năm 2003 là 25,2 tỷ, năm 2004 là 32,0 tỷ và năm 2005 là 37,0 tỷ USD. Trong các nhóm hàng hóa nhập khẩu thì nhóm hàng chế biến hoặc đã tinh chế luôn chiếm một tỷ trọng rất cao, thường xấp xỉ ở mức 3/4; điển hình là: năm 2000 chiếm tỷ trọng là 77,4%, năm 2001 là 75,0%, năm 2002 là 78,7%, năm 2003 là 78,4% và năm 2004 là 75,3%. Đối với nhóm hàng thô thì nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan có trị giá nhập khẩu chiếm hơn 1/2.
Để đảm bảo chất lượng cho hàng hóa nhập khẩu, Chính phủ đã quy định: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải thực hiện kiểm dịch động thực vật, kiểm tra về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn, chất lượng trước khi thông quan (Điều 8, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006). Theo đó, ngày 07/3/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg V/v ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa phải kiểm tra về chất lượng.
Vấn đề kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu ở nước ta được thực hiện bởi một hệ thống trên dưới 70 cơ quan, đơn vị được chỉ định trực tiếp kiểm tra hoặc làm đầu mối kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu, bao gồm:
Hơn 20 đơn vị trực thuộc hàng chục Bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hàng hóa đặc thù theo phân công của Chính phủ như: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Công nghiệp, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng cục Bưu điện và Bộ Khoa học và Công nghệ. Các đầu mối trên có vài chục đơn vị sự nghiệp kỹ thuật thực hiện các nhiệm vụ phân tích, thử nghiệm, đo lường, hiệu chuẩn phục vụ công tác kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) qua cửa khẩu.
Có 28 cơ quan địa phương là các Chi cục TCĐLCL các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có cửa khẩu XNK hàng hóa.
Hơn 20 tổ chức giám định hàng hóa được chỉ định kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa XNK theo yêu cầu của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Tại khu vực các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, chỉ tính riêng một số đơn vị của Bộ KH&CN (Trung tâm TCĐLCL 2 và 04 Chi cục TCĐLCL địa phương) thì từ năm 2004 đến 6 tháng đầu năm 2006 đã kiểm tra chất lượng hàng hóa cho 617 lô hàng hóa nhập khẩu các loại, trong đó: năm 2004 là 148 lô hàng, năm 2005 là 199 lô hàng và 6 tháng đầu năm 2006 là 270 lô hàng.
Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra CLHH nhập khẩu của một số cơ quan thuộc Tổng cục TCĐLCL, Bộ KH&CN từ năm 2004 đến 6 tháng đầu năm 2006
|
STT
|
Đơn vị
|
2004
|
2005
|
6 tháng đầu năm 2006
|
|
1
|
Trung tâm TCĐLCL 2
|
91
|
105
|
87
|
|
2
|
Chi cục TCĐLCL Quảng Trị
|
45
|
90
|
160
|
|
3
|
Chi cục TCĐLCL Thừa Thiên - Huế
|
12
|
04
|
03
|
|
4
|
Chi cục TCĐLCL Quảng Nam
|
|
|
02
|
|
5
|
Chi cục TCĐLCL Bình Định
|
|
|
18
|
|
|
Tổng cộng
|
148
|
199
|
270
|
Qua một vài số liệu như đã phân tích chúng ta thấy rằng: Ở nước ta số lượng các cơ quan tham gia kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu thì nhiều nhưng hiệu quả mang lại thì còn ở mức thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế đặt ra. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng tập trung chủ yếu vào một số nguyên nhân cơ bản như sau:
- Chưa phân định rạch ròi và cụ thể về chức năng quản lý và hoạt động dịch vụ kỹ thuật, do vậy đã dẫn đến tình trạng có một số cơ quan QLNN coi công việc này mang tính dịch vụ nhiều hơn là nhiệm vụ của công tác QLNN. Chính vì lẽ đó mà có tình trạng một số cơ quan QLNN mặc dù đã được phân công nhưng lại ít quan tâm đến việc kiểm tra Nhà nước về CLHH nhập khẩu. Có nghĩa là khi có yêu cầu của khách hàng hoặc cơ quan Hải quan thì tiến hành kiểm tra và nếu không có yêu cầu thì không thực hiện, thường không chủ động trong việc lập kế hoạch và tổ chức triển khai kiểm tra theo kế hoạch.
- Mặc dù đã có sự phân công giữa các Bộ, Ngành trong việc kiểm tra CLHH nhập khẩu nhưng trong quá trình thực thi thì lại thể hiện sự tùy tiện, bằng chứng là cơ quan của Bộ này đôi khi lại kiểm tra các loại sản phẩm hàng hóa thuộc danh mục của Bộ khác quản lý và ngược lại.
- Thiếu sự quản lý thống nhất chung trên phạm vi cả nước, do vậy mà mỗi Bộ, ngành lại ban hành các văn bản riêng, Tiêu chuẩn và quy trình kiểm tra khác nhau nên dẫn đến tình trạng chưa đồng nhất về thủ tục, phương pháp, quy trình... giữa các cơ quan thực thi nhiệm vụ, gây phiền hà cho doanh nghiệp và kết quả kiểm tra có lúc, có nơi lại thiếu sự đồng nhất.
- Trong những năm qua vấn đề đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho các cơ quan kiểm tra CLHH nhập khẩu từ TW cho đến địa phương được thực hiện một cách dàn trải, thiếu tập trung và đồng bộ. Mặt khác, giữa các cơ quan lại thiếu sự phối hợp và hỗ trợ cho nhau nên hiệu quả trong công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập khẩu chưa mang lại kết quả cao như mong đợi.
- Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, chúng ta thường kiểm tra cụ thể từng lô hàng hóa nhập khẩu, chưa thực hiện có hiệu quả cơ chế thừa nhận lẫn nhau về các kết quả chứng nhận sản phẩm, chứng nhận các hệ thống chất lượng... Vấn đề này cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, chưa phù hợp với quy định của Tổ chức thương mại thế giới.
Để phù hợp với các quy định của WTO và đồng thời để nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm tra Nhà nước về CLHH nhập khẩu, cần có sự khẩn trương trong việc đổi mới về thể chế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan kiểm tra Nhà nước về CLHH nhập khẩu (Cơ quan kiểm tra Nhà nước về CLHH nhập khẩu phải là cơ quan QLNN, đối với Bộ KH&CN thì cụ thể là Cục QLCLHH và Chi cục TCĐLCL các tỉnh, thành phố trực thuộc TW); đổi mới về cơ chế và phương thức hoạt động (trong đó tập trung vào việc hài hoà với các nước trong khu vực và thế giới về các Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn, các quy trình đánh giá sự phù hợp, kiểm tra và cấp chứng chỉ, chấp nhận kết quả kiểm tra). Đồng thời thực hiện tốt và có hiệu quả công tác kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu ở đất liền và Cảng biển .
Trong quá trình kiểm tra Nhà nước về CLHH nhập khẩu, trước tiên cần phải xem xét các điều kiện “cần và đủ” để áp dụng hình thức miễn kiểm tra nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động thương mại. Điều kiện để có thể áp dụng hình thức miễn kiểm tra là trong hồ sơ hàng hóa nhập khẩu phải có một trong các Giấy xác nhận về chất lượng mẫu hàng nhập khẩu, Giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm được cấp bởi các Tổ chức chứng nhận nước ngoài mà các tổ chức đó được Việt Nam công nhận. Trường hợp hồ sơ của hàng hóa nhập khẩu không có các loại giấy tờ trên thì phải tuân thủ chế độ kiểm tra thực tế theo quy định.
Về phương thức kiểm tra đối với các loại hình hàng hóa nhập khẩu là thử nghiệm mẫu điển hình (tương ứng với phương thức a, Khoản 1, Điều 12 của Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 của Chính phủ).
Về Căn cứ để kiểm tra chất lượng đối với từng loại hình hàng hóa nhập khẩu là các Quy chuẩn kỹ thuật bắt buột phải tuân thủ về Vệ sinh, an toàn, bảo vệ môi trường do các Bộ chuyên ngành quy định theo các tiêu chuẩn tương ứng nêu trong danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Ngoài ra, có thể áp dụng chế độ kiểm tra giảm hoặc kiểm tra chặt đối với các lô hàng hóa nhập khẩu:
- Kiểm tra giảm: Có nghĩa là thông qua quá trình theo dõi, cơ quan quản lý sẽ áp dụng chế độ kiểm tra giảm cho các trường hợp mà Hàng hóa có cùng chủng loại, có cùng xuất xứ do chính doanh nghiệp nhập khẩu có lịch sử chất lượng ổn định và đã được kiểm tra thực tế 03 lần liên tiếp trước đó đạt yêu cầu chất lượng nhập khẩu hoặc là áp dụng cho trường hợp Hàng hóa nhập khẩu mà nhà sản xuất có hệ thống quản lý chất lượng được chứng nhận bởi một tổ chức chứng nhận được Việt Nam công nhận, thừa nhận.
Kiểm tra chặt: Có nghĩa là qua quá trình theo dõi, cơ quan quản lý sẽ chuyển sang áp dụng chế độ kiểm tra chặt đối với các loại hàng hóa nhập khẩu khi có bằng chứng vi phạm pháp luật về quản lý chất lượng, hoặc chất lượng không ổn định hay nhiều lần không đạt yêu cầu quy định.
Việc áp dụng chế độ miễn kiểm tra, kiểm tra giảm hay kiểm tra chặt được nêu cụ thể trong các quy trình kiểm tra đối với từng loại sản phẩm - hàng hóa đặc thù, do các cơ quan quản lý chuyên ngành, Tổng cục TCĐLCL quy định theo một hay nhiều hình thức sau đây: Giảm hoặc tăng tần suất kiểm tra (số lượng lô liên tiếp phải lấy mẫu kiểm tra), Giảm hoặc tăng lượng mẫu lấy để kiểm tra, Giảm hoặc tăng số chỉ tiêu kiểm tra.
Trên cơ sở các Bộ, ngành có được những cải tiến một cách đồng bộ trong việc kiểm tra Nhà nước về CLHH nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam thì chắc chắn sẽ nâng cao được hiệu quả trong hoạt động và hiệu lực trong quản lý. Vấn đề này không chỉ tạo thuận lợi trong giao thương quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho SXKD trong nước phát triển mà còn góp phần tích cực, quan trọng và hiệu quả vào việc bảo vệ sản xuất và người tiêu dùng trong nước.