10 Tháng Hai 2012 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Gia cố sinh học - Biện pháp chống lũ lụt hiệu quả và lâu dài
Nguyễn Văn Huy
       Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Nguyên
        Sự gia tăng mức độ gây hại của thiên tai lũ lụt trong những năm qua ở Tây Nguyên đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt gây ra ở nơi đây. Nhiều biện pháp tích cực phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại đã được đưa ra, được các địa phương áp dụng với sự cố gắng từ nội lực kết hợp với đầu tư giúp đỡ của Trung ương. Thế nhưng, xem ra lũ lụt vẫn hoành hành, gây thiệt hại và khó khăn không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh Tây Nguyên. Theo kết quả nghiên cứu về các yếu tố tự nhiên như: Khí hậu, địa chất thổ nhưỡng, thảm phủ thực vật, đặc điểm dòng chảy thì ở Tây Nguyên có thể áp dụng được nhiều biện pháp phòng chống lũ lụt có hiệu quả mà trong đó biện pháp gia cố sinh học được xem là những ưu điểm vượt trội bởi nó mang tính bền vững lâu dài và gắn kết được với nhiều lợi ích kinh tế xã hội khác. Có hai hình thức trong thực hiện biện pháp gia cố sinh học là: Khoanh nuôi, phục hồi nơi rừng có thể tái sinh và Trồng rừng nơi đất trống đồi núi trọc.

Khoanh nuôi, phục hồi rừng trong điều kiện nhiệt đới ẩm, nơi có cây tái sinh là biện pháp khả thi và rẻ tiền. Nó khá phù hợp với Tây Nguyên bởi nơi đây có địa hình phức tạp, phân bố dân cư còn thưa, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thuận lợi cho sự sinh trưởng của nhiều loại cây, trong khi hệ thực vật ở các khu rừng khá phong phú với nhiều hệ - loài có khả năng tái sinh cao và phát triển nhanh; tập quán sinh hoạt và sản xuất đồng bào các dân tộc ở đây đã có sự gắn kết chặt chẽ, lâu dài với thiên nhiên. Các nơi nên chọn để khoanh nuôi, phục hồi rừng là các đỉnh núi, chỏm đồi, nơi đầu nguồn các sông suối. Khi khoanh vùng, cần phải dựa vào kết quả phân tích đặc điểm khí hậu thuỷ văn nhất là sự phân bố mưa, nhiệt, ẩm, dònh chảy; xem xét kỹ mức độ lũ lụt hàng năm cũng như khả năng tái sinh của rừng. Có một thực tế ở Tây Nguyên là tình trạng phá rừng làm nương rẫy tăng mạnh trong những năm cuối thế kỷ XX, nay vẫn chưa thuyên giảm là bao. Việc khai thác rừng vượt ra ngoài phạm vi cho phép, lạm dụng khai thác ở những nơi có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử sụng đất đang làm đất rừng co hẹp nhanh chóng và khó có điều kiện tái sinh. Mặt khác rừng vẫn bị cháy với hàng ngàn ha mỗi năm mà nguyên nhân một phần do những diễn biến cực đoan của thời tiết nhưng phần lớn là sự thiếu ý thức hoặc vô trách nhiệm hoặc cố ý của một số người mà nay vẫn chưa có những biện pháp ngăn chặn triệt để. Để rừng phục hồi, cần tổ chức bảo vệ, nghiêm cấm việc chặt phá, đốt rừng một cách nghiêm ngặt; khi rừng đã bắt đầu khép tán cần có biện pháp nuôi dưỡng dẫn dắt để rừng phát triển nhiều tàng, nhiều lớp...
          Chiến tranh và nạn phá rừng đã khiến cho gần ¼ diện tích đất tự nhiên của Tây Nguyên trở thành đất trống đồi núi trọc và nương rẫy hoang hoá. Nếu không nhanh chóng phủ xanh cây rừng thì phần diện tích này sẽ trở nên cằn cỗi bởi sự rửa trôi, xói mòn đồng thời kéo theo những thiên tai khôn lường như nứt trượt đất, lũ quét, lũ bùn... đe doạ tới sinh mạng con người, làm giảm tuổi thọ của nhiều công trình, làm mất cân bằng sinh thái của nhiều lưu vực sông suối và vùng đất lân cận. Do đặc điểm của lũ, trồng rừng phòng chống lũ nhằm chủ yếu vào việc khồng chế dòng chảy mặt và xói mòn, trượt lở đất nên cần thoả mãn một số nguyên tắc sau:
          (1) Phải chiếm một diện tích thoã đáng để phát huy vai trò điều tiết nước, bảo vệ đất.
          (2) Các băng rừng phải bố trí theo đường đồng mức có bề rộng thích hợp để phát huy tối đa khả năng ngăn dòng chảy mặt và xói mòn đất.
          (3) Có kết cấu nhiều tầng, phân bố nơi xung yếu.
          Trên mỗi lưu vực sông, tuỳ mức độ xung yếu và đặc điểm mưa lũ mà chọn vị trí, diện tích (tỷ lệ rừng so với diện tích lưu vực), số đai rừng, bề rộng đai rừng, kết cấu đai rừng và loại cây được chọn. Việc phân chia cấp xung yếu cho lưu vực được tiến hành trên cơ sở kết hợp phân tích nguy cơ lũ và bản đồ phân loại thảm thực vật theo chức năng phòng hộ. Có thể chia thảm thực vật làm năm mức:
          (1) Rất xung yếu: thảm là dạng cây bụi, cỏ thưa, độ tàn che dưới 0,3, đất trống đồi núi trọc (K = 1).
          (2) Xung yếu: là nơi các lớp cây bụi, thảm cỏ tranh, lau lách, độ tàn che lớn hơn 0,3, rừng trồng thuần loại, vườn cây ăn trái, cây công nghiệp chưa khép tán (K = 0,75).
          (3) Ít xung yếu: rừng hai tầng có độ tàn che 0,3 - 0,6. rừng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, rừng tre nứa, rừng non mới phục hồi có độ tàn che > 1,6 (K = 0,5).
          (4) Không xung yếu: rừng 3 tầng tán có độ tàn che 0,3 - 0,6 rừng hai tầng có độ tàn che > 0,7 (K = 0,75).
          (5) An toàn: rừng 3 tầng tán có độ tàn che 0,7 (K = 0).
            Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, tỷ lệ che phủ của rừng phải đạt từ 50 - 70% mới đảm bảo độ an toàn về môi trường, mà trong đó diện tích rừng chuyên phòng hộ phải đạt trên 30%. Đối với các lưu vực sông suối nhỏ miền núi nước ta thì tỷ lệ rừng hợp lý để hạn chế khả năng sinh lũ lớn phải đạt trên 30%. Số đai rừng được xác định dựa vào tỷ lệ rừng cần thiết và độ rộng cần thiết của mỗi đai. Do mục đích ngăn dòng chảy mặt, hạn chế xói mòn nên đai rừng càng rộng càng tốt tuy nhiên cũng cần lưu ý đến đất cho sản xuất và các mục đích khác. Chiều rộng đai rừng điều tiết nước, phòng lũ tính theo công thức kinh nghiệm của Kharitonov:
            B = (Mm x LT x i x 100) : K Trong đó: B là chiều rộng đai rừng (m); Mm là mô đun dòng chảy lớn nhất (l/s.km2) ứng với tần xuất 5%; LT là chiều dài từ đường phân nước đến mép trên đai rừng (m); i là độ dốc sườn dốc (0); K là hệ số thấm (mm/s). Ở Việt Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng lũ phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa và cường độ mưa nên công thức Kharitonov có thể cải tiến cho phù hợp: B = a x (Mm x LT x i x Ir): K
            Trong đó: a là hệ số; Ir là cường độ mưa (mm/h).
            Vị trí đai rừng được bố trí phụ thuộc vào dạng mặt dốc và theo hình thức đường đồng mức: Mặt dốc lồi, phần chân dốc thường có độ dốc lớn nên các đai tập trung ở chân dốc. Mặt dốc lõm, phần độ dốc tập trung ở đỉnh nên các đai thường được bố trí ở ngay gần đỉnh, mặt dốc hỗn hợp các đai rừng nên bố trí trực tiếp ngoài thực địa.
            Cây được lựa chọn để trồng rừng phòng lũ cũng cần chọn lọc kỹ nhằm đảm bảo các điều kiện như: Thích hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu nơi trồng; phải có tán dày, rộng, cành lá rậm rạp; có bộ rễ phát triển sâu, rộng và cố định để tạo điều kiện nước thấm sâu; có khả năng mọc nhanh, sinh trưởng mạnh tái sinh tốt và mọc lâu năm; chịu được đất xấu, nghèo và khô hạn. Tạo rừng phòng hộ, chống lũ nhấy thiết phải tạo rừng hỗn giao, nhiều tầng giữa cây lớn và cây bụi; phải trồng dày mới phát huy được tác dụng phòng hộ.
            Trong nhiều biện pháp phòng chống lũ còn có biện pháp công trình như xây các hồ chứa để điều tiết lũ, xây dựng hệ thống đê ngăn nước lũ... nhưng với Tây Nguyên do địa hình chia cắt mạnh, đa số là các sông suối nên mỗi công trình chỉ phát huy tác dụng trong phạm vi và mức độ rất nhỏ. Hơn thế, mọi loại vật liệu: bê tông, gạch, đá, gỗ, đất... đều bị phá hỏng dần nên hiệu quả công trình bị giảm theo thời gian và đòi hỏi phải đầu tư lớn để xây dựng và tu bổ. Vậy nên biện pháp gia cố sinh học được xem là có ưu thế vượt trội, rẻ tiền, bền vững và bảo đảm duy trì cải tạo môi trường sống, không chỉ giúp phòng chống lũ trong mùa mưa mà còn tạo điều kiện thuận lợi tích nước tự nhiên để cung cấp cho mùa khô.


Ngày gửi:21/04/2007 Số lần xem:758

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN