10 Tháng Hai 2012 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Về triển vọng phát triển cà phê hữu cơ ở Tây Nguyên

  TS. Tôn Nữ Tuấn Nam

Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên
1. Tình hình sản xuất cà phê ở Tây Nguyên
Cây cà phê có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp nước ta nói chung và đối với Tây Nguyên nói riêng. Do đặc điểm thuận lợi về đất đai, khí hậu Tây Nguyên được xem là vựa sản xuất cà phê của nước ta.
Mặc dù sự khủng hoảng về giá cả trong thời gian qua ảnh hưởng không ít đến ngành sản xuất cà phê, cho đến nay và trong thời kỳ dài sắp tới, cây cà phê vẫn là loại cây công nghiệp chủ lực của vùng Tây Nguyên, chưa có loại cây nào thay thế được. Diện tích cà phê hiện nay của các tỉnh Tây Nguyên là 436.000 ha, giảm khoảng 50.000-60.000ha so với thời kỳ đạt đỉnh cao vào năm 2002. Với diện tích này, cà phê Tây Nguyên vẫn chiếm khoảng  90% diện tích cà phê cả nước.
Hơn 95% diện tích cà phê ở Tây Nguyên là cà phê vối, cà phê chè chỉ được trồng ở một số vùng sinh thái đặc biệt phù hợp có độ cao hơn 600m. Giống cà phê chè đang được trồng phổ biến hiện nay là giống Catimor, giống này có các đặc tính thích ứng cao với điều kiện sinh thái, chống chịu sâu bệnh, yêu cầu thâm canh cao và cho năng suất cao, tuy vậy có hạn chế ít nhiều về hương vị so với một số giống cà phê chè khác. Các giống cà phê chè nổi tiếng hơn về hương vị như Bourbon, Typica, Caturra chỉ được trồng ở vùng Đà Lạt, Lâm Đồng nhưng diện tích cũng đang thu hẹp dần do sâu bệnh và già cỗi.
Các nét đặc trưng trong sản xuất cà phê ở Tây Nguyên là:
- Thâm canh cao độ thể hiện ở tình trạng độc canh, các vườn cà phê ít có hay không có cây che bóng, cây trồng xen, được đầu tư cao về phân bón, nước tưới, công chăm sóc vườn cây.
- Cà phê đạt được năng suất rất cao nhưng giá thành sản xuất cũng cao, do vậy rủi ro khi giá cà phê trên thị trường cà phê thế giới xuống thấp càng trầm trọng.
- Chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thấp. Điều này là do Tây Nguyên chỉ sản xuất cà phê vối là chủ yếu, bên cạnh đó còn có nhiều hạn chế trong khâu thu hoạch, sơ chế cà phê.
Trong cuộc khủng hoảng giá thấp vừa qua do cung vượt cầu, nhiều nông dân trồng cà phê đã gánh chịu thiệt hại lớn khi mà giá bán thấp hơn giá thành. Từ cuộc khủng hoảng này các nhà chuyên môn và chính sách ở nước ta đã đề ra một số các giải pháp nhằm nâng cao tính ổn định, bền vững ngành sản xuất cà phê nhằm hạn chế các thiệt hại, rủi ro cho người trồng cà phê như sau:
- Điều chỉnh cơ cấu diện tích: giảm một phần diện tích cà phê Robusta, tăng diện tích cà phê Arabica ở các vùng sinh thái phù hợp.
- Hạ giá thành sản phẩm trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như bón phân cân đối, tưới nước hợp lý.
- Khuyến khích phát triển sản xuất cà phê bền vững thông qua việc trồng cây che bóng, đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm trong vùng trồng cà phê.
- Đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao chất lượng cà phê.
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường
2. Các loại cà phê “đặc thù” - cà phê hữu cơ
Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, người ta sẳn sàng trả giá cao để được thưởng thức các loại cà phê thơm ngon và an toàn cho sức khoẻ. Ngoài ra, người tiêu dùng cũng đòi hỏi có sự đảm bảo về môi trường ở vùng sản xuất, đảm bảo điều kiện sống tốt cho người nông dân. Chính vì vậy, nhiều quốc gia sản xuất cà phê đang tìm cách “đặc thù hoá” sản phẩm cà hê thông qua nguồn gốc xuất xứ, quá trình canh tác, chế biến, đặc trưng chất lượng, hương vị riêng biệt để tăng giá bán, tự khẳng định vị trí của cà phê và ít phụ thuộc vào thị trường định giá truyền thống.
Một số các loại cà phê “đặc thù” bao gồm:
- Cà phê có tên gọi xuất xứ (Geographical Indications of Orgirine): Cà phê được trồng và sản xuất tại một vùng có ranh giới địa lý được xác định với những đặc thù về khí hậu đất đai, quy trình chăm sóc, thu hoạch, chế biến.
- Cà phê hảo hạng/đặc sản (Gourmet/ Speciality)
- Cà phê có cây che bóng (Shaded)
- Cà phê công bằng thương mại (Fair Trade): Cà phê được mua trực tiếp từ hợp tác xã theo hợp đồng với mức giá tối thiểu được đảm bảo.
- Cà phê hữu cơ (Organic):
Các loại cà phê “đặc thù” đều đòi hỏi có giấy chứng nhận khi lưu thông buôn bán. Trong các loại cà phê trên thì quy trình sản xuất cà phê hữu cơ đòi hỏi khắt khe nhất về mặt bảo vệ môi trường, đất đai, hệ sinh thái nông nghiệp lành mạnh và cấm tuyệt đối việc sử dụng các hoá chất tổng hợp. Hiện nay cà phê hữu cơ chỉ chiếm khoảng 1% thị trường cà phê thế giới và các cuộc điều tra cũng cho thấy đang có một xu hướng tăng nhanh nhu cầu về cà phê hữu cơ trong các năm gần đây. Cà phê hữu cơ được tiêu thụ nhiều nhất ở các nước châu Âu, nước Mỹ, Nhật với giá cao hơn cà phê thông thường từ 15-20%. Các nước tham gia sản xuất cà phê hữu cơ với sản lượng lớn có thể kể đến là Colombia, Peru, Brazil, Costa Rica, Guatemala, Indonesia. Ngoài ra một số các nước khác như El Salvador, Nicaragua, Ấn Độ cũng bắt đầu phát triển sản xuất cà phê hữu cơ.
Trong bối cảnh khó khăn chung của các nước sản xuất cà phê trên thế giới, khi mà lượng cung vượt cầu, ngành cà phê vùng Tây Nguyên cũng phải đang tự tìm hướng phát triển hợp lý hơn. Cà phê hữu cơ và các loại cà phê đặc thù có chất lượng cao là một trong các giải pháp tốt nhằm tìm kiếm thêm lợi nhuận, nâng cao sức cạnh tranh, xác định chỗ đứng của cà phê Việt Nam trên thị trường cà phê thế giới.
3. Triển vọng phát triển cà phê hữu cơ ở Tây Nguyên
* Khả năng:
- Khí hậu thích hợp đất đai phì nhiêu, vùng cà phê rộng lớn
- Nhiều tiểu vùng khí hậu thích hợp cho phát triển cà phê chè có độ cao hơn 800m.
- Nông dân đã thấy các hạn chế trong việc thâm canh cao độ và bắt đầu quan tâm đến việc sản xuất cà phê an toàn, có trách nhiệm và bền vững.
- Có các Công ty cà phê nổi tiếng như Thắng Lợi, Phước An, Buôn Hồ... và một số các nhà rang xay với các nhãn hiệu cà phê nổi tiếng như Trung Nguyên, An Thái, Mehico. Việc hợp tác giữa các nhà sản xuất và các nhà tiêu thụ sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc giới thiệu cà phê hữu cơ Tây Nguyên.
- Các chương trình khuyến khích phát triển cà phê vối bền vững ở Dak Lak với sự tài trợ chính của NESTLE.
- Tây Nguyên có lợi thế về nguồn phân hữu cơ được phép sử dụng trong canh tác hữu cơ với nhiều mỏ than bùn có trử lượng lớn, .
* Thách thức:
- Hình thức sản xuất nông hộ thiếu sự liên kết như hiện nay là khó khăn lớn để sản xuất và tiêu thụ các loại cà phê đặc sản trong đó có cà phê hữu cơ.
- Người trồng cà phê chưa có thông tin về các quy định sản xuất cà phê hữu cơ, thiếu thông tin đáng tin cậy về thị trường buôn bán cà phê hữu cơ.
- Cà phê Tây Nguyên đang áp dụng biện pháp thâm canh cao và đạt năng suất cao. Các diện tích cà phê khi chuyển sang sản xuất hữu cơ, không được sử dụng các hoá chất tổng hợp chắc chắn năng suất sẽ giảm. Liệu giá bán cao của cà phê hữu cơ có đủ bù vào sản lượng giảm đi khi sản xuất cà phê hữu cơ là điều làm cho người trồng cà phê phải đắn đo. Do vậy cần có mô hình sản xuất thử từ sản xuất đến tiêu thụ cà phê hữu cơ.
- Thực hiện canh tác hữu cơ sau 3 năm thì mới được công nhận cà phê hữu cơ. Trong 3 năm đó, người nông dân chưa được hưởng lợi từ giá bán cao của cà phê hữu cơ, họ có đủ sức chịu đựng về thiệt hại kinh tế cho đến khi được công nhận cà phê hữu cơ không? Ngoài ra khi muốn tham gia vào thị trường nông sản hữu cơ, người sản xuất phải đóng một khoản chi phí khá cao để thuê các tổ chức quốc tế giám định và cấp giấy chứng nhận, với cách sản xuất nông hộ và với thu nhập như hiện nay sẽ không có nhiều hộ sẳn sàng đóng chi phí này.
4. Định hướng phát triển cà phê hữu cơ ở Tây Nguyên
Vì người sử dụng cà phê hữu cơ là người chấp nhận bỏ ra nhiều tiền để được hưởng một tách cà phê vừa thơm ngon vừa an toàn cho sức khoẻ, do vậy chúng ta có thể bắt đầu sản xuất cà phê chè hữu cơ là hợp lý hơn cả. Các giống cà phê chè có chất lượng cao như Typica, Bourbon, KH33 và các giống lai mới có triển vọng như TN1, TN2, TN3, TN4 nên được ưu tiên chọn lựa trong sản xuất cà phê chè hữu cơ. Các giống dễ nhiễm rỉ sắt như Typica, Bourbon phải trồng ở cao độ hơn 900m để hạn chế bệnh rỉ sắt.
Hạn chế trồng cà phê chè Catimor để sản xuất cà phê chè hữu cơ vì giống này bị hạn chế về chất lượng, tuy vậy cũng nên dựa vào các vùng cà phê chè Catimor sẳn có với các điều kiện sinh thái phù hợp và đã có sẳn các điều kiện canh tác dễ chuyển sang canh tác hữu cơ như đã có trồng cây đai rừng che bóng, trồng xen với các cây lâu năm khác v.v...
Cà phê vối mặc dù có hương vị không thơm ngon và ít được được ưa chuộng bằng cà phê chè nhưng cũng không nên loại hẳn cà phê vối ra khỏi định hướng phát triển cà phê hữu cơ. Thị hiếu của người tiêu dùng đang có khuynh hướng quen dần với hương vị đậm đà của cà phê vối. Cà phê vối lại đang chiếm phần lớn diện tích cà phê ở vùng Tây Nguyên nên sản phẩm cà phê vối hữu cơ là không thể thiếu trong tương lai lâu dài của cà phê Tây Nguyên. Trước mắt khởi điểm phù hợp đối với cà phê vối là khuyến khích canh tác bền vững với cây che bóng, cây trồng xen đa dạng trong vườn cà phê và sử dụng hợp lý phân bón vô cơ và giảm thiểu các hoá chất tổng hợp. Đây là bước chuyển tiếp quan trọng để hình thành các vùng sản xuất cà phê vối hữu cơ.
Để phát triển cà phê hữu cơ cần dựa vào 1 số công ty cà phê đã có danh tiếng để tiến hành bước thử nghiệm trên 1 số diện tích có quy mô nhỏ (5-10ha) và vừa (50-100ha). Sản phẩm thu được đủ lượng cần thiết để giới thiệu chào hàng trên thị trường quốc tế. Việc xác định giá cả, đầu ra của sản phẩm và hiệu quả kinh tế đem lại của phương thức sản xuất mới là cơ sở để quuyết định cho chủ trương mở rộng sản xuất cà phê hữu cơ Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
5. Mô hình cà phê chè hữu cơ đang thực hiện ở Dak Lak
Một mô hình cà phê chè hữu cơ đã được thiết lập tại Công ty cao su Krông Buk năm 2003 với các giống TN1, TN2, TN4, TN10, KH33 và Catimor. Vị trí mô hình thuộc xã Dleiya, huyện Krông Năng. Đây là vùng đồi núi nằm ở phía bắc của tỉnh Dak Lak, có độ cao 800-900m, là một trong các tiểu vùng ở Dak Lak có điều kiện sinh thái phù hợp cho cây cà phê chè phát triển. Hiện nay ở xã Dleiya đã phát triển được khoảng 700 ha cà phê chè, chủ yếu là giống cà phê chè Catimor trồng phổ biến từ năm 2000 trở lại đây thuộc sự quản lý của Công ty Cao su Krông Buk. Phần lớn diện tích cà phê chè ở đây được trồng dưới tán rừng cao su, có độ che bóng tốt. Cây cà phê chè trồng ở vùng này sinh trưởng khá tốt, ít sâu bệnh, có tiềm năng cho năng suất cao.
Trong mô hình hữu cơ, hoàn toàn không sử dụng các hoá chất tổng hợp như phân bón khoáng, thuốc trừ sâu. Năm trồng mới được bón 40m3 phân chuồng/ha và 1000kg lân vi sinh, các năm sau bón 15m3 phân chuồng/ha và 4.000kg phân hữu cơ vi sinh được chế biến từ than bùn và vỏ quả cà phê. Ngoại trừ giống KH33 và Catimor được trồng bằng cây thực sinh, các giống TN1, TN2, TN4, TN10 được trồng bằng cây ghép trên gốc cà phê vối. Sinh trưởng bước đầu cho thấy giống KH33 và Catimor phát triển tốt hơn các giống khác. Khi được áp dụng canh tác hữu cơ, giống Catimor có sinh trưởng kém hơn Catimor được trồng trong điều kiện thâm canh của Công ty, tuy vậy sự chênh lệch về sinh trưởng cũng không quá trầm trọng.
Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây cà phê chè sau 18 tháng trồng
Giống
Chiều cao cây (m)
ĐK gốc (cm)
Số cặp cành C1
TN1
0,91
2,90
16
TN2
0,83
2,10
13
TN4
0,94
2,30
15
TN10
0,85
2,63
14
Catimor (thực sinh)
0,94
2,80
16
TH1 (thực sinh)
1,45
2,97
16
Catimor Đ/C (thâm canh)
1,05
2,93
18
Vụ thu hoạch 2005 là vụ thu đầu tiên để có sản phẩm cà phê chè hữu cơ vùng Tây Nguyên. Tuy diện tích và sản lượng chưa nhiều, nhưng đây sẽ là bước khởi động để nhập cuộc với thị trường sản xuất hữu cơ.

Ngày gửi:21/04/2007 Số lần xem:1546

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN