GS.TS Trần An Phong
Nguyên Viện trưởng Viện QH & TKNN Bộ Nông nghiệp và PTNT
Tất cả các nước trên thế giới dù ở trình độ phát triển không giống nhau đều phải quan tâm tới việc “quản lý, bảo tồn và khai thác sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên, định hướng sự thay đổi công nghệ và tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo cho phát triển bền vững”.
Sự phát triển bền vững ấy còn có hệ quả cực kỳ quan trọng là“Bảo vệ được tài nguyên đất, nước và đa dạng sinh học…”không những không hủy hoại môi trường sống mà còn hồi phục lại được những cảnh quan vốn có của thiên nhiên, làm tăng sức khỏe, kéo dài tuổi thọ của con người, phù hợp về mặt kinh tế - xã hội của từng nước đồng thời cũng phù hợp với xu thế chung của thời đại.
* Nguồn nước ở Dak Lak
1) Sông ngòi là sản phẩm của khí hậu, mưa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho dòng chảy của sông ngòi và các hồ chứa ở tỉnh. Bởi vậy, khi nói đến tài nguyên nước mặt không thể không đề cập đến mưa.
- Lượng mưa trung bình hàng năm trong toàn tỉnh từ 1600-2000 mm, vùng Buôn Ma Thuột có lượng mưa cao nhất và thấp nhất là vùng Krông Buk. Lượng mưa phân bố chủ yếu vào các tháng của mùa mưa (từ tháng IV đến tháng X) chiếm đến 90% lượng mưa cả năm.
Sông Srêpok là chi lưu cấp 1 của các sông Mê Công, chiều dài toàn bộ sông là 315 km với diện tích lưu vực 30.900 km2. Trong địa phận tỉnh Dak Lak diện tích lưu vực của dòng chính là 4.200 km2. Sông Srêpok có hai nhánh sông Krông Nô và Krông Ana hợp thành.
Tổng dòng chảy qua lãnh thổ Việt Nam là 23.84 tỷ m3 trong lãnh thổ tỉnh Dak Lak 11,15 tỷ m3 (46,77%) nhưng trong thực tế ở các hồ chứa, đập dâng của tỉnh Dak Lak chỉ mới giữ lại được 421,171 triệu m3 bằng 4,1% dòng chảy có trong lãnh thổ Dak Lak nhờ vào 533 công trình thuỷ lợi trong đó 441 hồ chứa, 63 đập dâng và 29 trạm bơm.
2)Nhằm khai thác phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đánh giá tiềm năng khai thác nước dưới đất ở tỉnh Dak Lak. Trữ lượng nước dưới đất Dak Lak được đánh giá cho các tỉnh cao nguyên, vùng trũng, vùng đồng bằng của tỉnh với trữ lượng tài nguyên nước dưới đất.
·Trữ lượng tĩnh tự nhiên : 28.594 triệu m3
·Trữ lượng động tự nhiên: 1.050.714 m3/ngày
·Trữ lượng khai thác tiềm năng 1.908.045 m3/ngày
- Những năm gần đây tổng lượng nước ngầm sử dụng vào mục đích phục vụ cho sinh hoạt trên địa bàn tỉnh 60.000 m3/ngày, trong đó sử dụng riêng thành phố Buôn Ma Thuật tại thời điểm hiện nay đạt 20.000 m3 /ngày.
- Nước ngầm là nguồn nước quan trọng trong việc tưới cho các loại cây công nghiệp chủ yếu là cà phê. Diện tích cà phê của tỉnh đến nay đã lên tới 182.000 ha (2000) trong đó ước khoảng 56% diện tích tưới bằng nguồn nước ngầm.
Trong quá trình khai thác nước ngầm ở tỉnh Dak Lak phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội vào những năm gần đây (1995-2005) mực nước ngầm có xu thế giảm xuống vào mùa khô, nhưng lại phục hồi nhanh vào mùa mưa.
* Tài nguyên đất
- Dak Lak có 11 loại đất chính trong đó có 2 nhóm cần quan tâm trong vấn đề sử dụng lớn nhất là đất xám579.000 ha (44,14%) và đất đỏ bazan 318.733 ha (24,28%)
- Về hiện trạng sử dụng đất đến năm 2005 có 466.427 ha đất nông nghiệp (35,53%), đất lâm nghiệp 597.848 ha, (45,54%). Diện tích đất nông nghiệp tăng chủ yếu là tăng đất trồng cây cà phê, năm 1958 diện tích cà phê 3.000 ha, đến năm 1975: 6.224 ha; 1985: 21.829ha; 1995: 13.110 ha và năm 2005: 165.126ha.
- Trong nhiều năm tỉnh đã tập trung xây dựng các công trình thuỷ lợi hồ chứa, tới năm 2005 đã có 533 công trình thuỷ lợi, trong đó có 441 hồ chứa lớn, nhỏ; 63 đập dâng và 29 trạm bơm với khả năng dung tích các hồ chứa 421.171 ngàn m3 có thể đảm nhận tưới 40.960 ha cà phê.
Kết luận
Trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền đối với phát triển cà phê ở Dak Lak có nhiều ưu điểm về nhiệt độ, tổng tích ôn, biên độ giữa ngày và đêm, không có sương muối, đất đai rất tốt vì là đất đỏ bazan có nhiều đặc điểm tốt về độ xốp, giữ nước là một vùng sinh thái cà phê rất tuyệt vời. Nhưng có một điểm hạn chế lớn nhất là có mùa khô kéo dài 5 tháng, thời kỳ sinh trưởng ngắn (225 ngày) thiếu nước tưới, nên để ổn định và phát triển bền vững chỉ nên giữ lại cà phê trong đánh giá đất đai xác định S1 (rất phù hợp) và S2 (phù hợp) với diện tích khoảng từ 130-140 ngàn ha