10 Tháng Hai 2012 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Đa dạng hóa cây trồng trong hệ thống canh tác cà phê
TS. Lê Ngọc Báu
Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên
 
 
              Cây cà phê đã được trồng ở Việt Nam trên 100 năm nay nhưng diện tích cà phê chỉ phát triển nhanh trong vòng 15 năm trở lại đây. Hiện nay, cả nước có trên 500.000ha với sản lượng xuất khẩu trên 600.000 tấn. Ngành cà phê Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn: (1) Đưa Việt Nam lên hàng thứ hai về xuất khẩu cà phê trên thế giới; (2) Sản phẩm cà phê đã đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam và tham gia có hiệu quả vào các chương trình kinh tế xã hội như định canh định cư, xóa đói giảm nghèo; (3) Tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động ở miền núi trong đó có một phần là các đồng bào dân tộc và đóng góp một tỷ trọng không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm của đất nước.
         Mặc dù vậy, ngành cà phê Việt Nam đang đứng trước những thách thức hết sức to lớn: (1) Chất lượng sản phẩm chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thấp; (2) Giá cà phê liên tục bị giảm sút trong những năm gần đây, có lúc xuống thấp hơn giá thành sản xuất khiến người trồng cà phê bị thua lỗ, tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội; (3) Tình trạng độc canh cây cà phê đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng: thiếu nguồn nước tưới, dịch hại thường xuyên bùng nổ, sự đa dạng sinh học bị suy giảm và thu nhập của nông dân bị lệ thuộc nhiều vào giá cả của sản phẩm cà phê vốn biến động rất mạnh qua các năm.
         Trong bối cảnh mức sản xuất hàng năm liên tục cao hơn mức cầu của thế giới như hiện nay thì áp lực cạnh tranh giữa các nước sản xuất cà phê sẽ diễn ra hết sức gay gắt. Tuy vậy, trong một vài thập niên tới cây cà phê vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam.
         Trên 80% diện tích cà phê Việt Nam tập trung ở Tây Nguyên là vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp để phát triển cà phê với quy mô lớn. Tuy vậy, môi trường và hệ sinh thái của vùng Tây Nguyên rất dễ bị suy thoái do phần lớn đất đai có địa hình đồi dốc, lượng mưa hàng năm cao (1.700-2.000mm) và tập trung trong 6-7 tháng đã thúc đẩy quá trình xói mòn rửa trôi. Những biến đổi về môi trường sinh thái của vùng Tây Nguyên không chỉ tác động đến đời sống của hàng triệu dân trong vùng mà còn ảnh đến hàng chục triệu người ở vùng biển miền Trung, vùng Đông Nam Bộ và những cư dân của các nước Lào và Campuchia đang làm ăn, sinh sống ở vùng biên giới tiếp giáp với Tây Nguyên.
         Thực hiện đa dạng hóa cây trồng trong hệ thống canh tác cà phê ở Tây Nguyên có vai trò quan trọng trong chiến lược sử dụng hợp lý đất vùng đồi núi và góp phần duy trì sự phát triển bền vững ngành một ngành kinh tế quan trọng ở Tây Nguyên.
         Trong điều kiện tự nhiên, các cây cà phê nguyên thủy đều sống dưới tán rừng. Vì vậy, cây cà phê được xếp vào loại cây ưa bóng mát và trước đây vài thập kỷ, trồng cây che bóng được xem như là yêu cầu bắt buộc trong nghề trồng cà phê. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, qua các kết quả nghiên cứu cũng như từ kinh nghiệm thực tế ở nhiều vùng cà phê trên thế giới, cây che bóng đang bị loại bỏ dần cùng với việc tăng cường phân bón và tưới nước để đạt năng suất cao hơn.
         Tuy có những cuộc tranh cãi về việc sử dụng cây che bóng trong vườn cà phê nhưng những tác dụng sau đây của cây che bóng đã được nhiều người thừa nhận: (1) Điều hòa nhiệt dộ trong vườn cây, Cramer (1957) đã ghi nhận tại Indonesia trong vườn có cây che bóng nhiệt độ ban ngày giảm 70C và tăng 30C vào ban đêm so với vườn không được che bóng; (2) Giảm cường độ ánh sáng ban ngày và hạn chế tình trạng cây bị kiệt sức do mang quả quá nhiều [8]; (3) Bảo vệ cây trồng chính khỏi bị ảnh hưởng của mưa đá và gió hại; (4) Bảo vệ lớp đất mặt khỏi bị thiêu đốt chất hữu cơ do ánh sáng mặt trời; (5) Hạn chế sự phát triển của cỏ dại, đặc biệt là các loại cỏ lâu năm; (6) Hạn chế sự bốc thoát hơi nước trong vườn cây do đó giảm thiểu được nhu cầu nước tưới; (7) Cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng thông qua các tàn dư thực vật, quá trình cố định đạm của cây che bóng; (8) Cải thiện được phẩm chất nước uống của sản phẩm cà phê. Một công trình nghiên cứu gần đây của Guyot (1996) cho thấy cây che bóng có tác dụng kéo dài quá trình chín của quả, làm tăng độ acid và hàm lượng succrose trong hạt là những yếu tố quan trọng để hình thành các hợp chất thơm có lợi cho sản phẩm chất nước uống.
         Tuy nhiên, cây che bóng có những nhược điểm sau: (1) Trong điều kiện khô hạn cây che bóng sẽ cạnh tranh nước với cây trồng chính; (2) Cây che bóng đòi hỏi phải được rong tỉa thường xuyên để tán cây không quá rậm rạp, đây là công việc nặng nhọc và nguy hiểm vì cây che bóng thường rất cao; (3) Ức chế quá trình phân hóa mầm hoa khiến cây không thể phát huy tối đa tiềm năng năng suất và không thể đạt năng suất cao.
            Tại Việt Nam, cây muồng đen (Cassia siamea) và keo dậu (leucaena sp.) được sử dụng làm cây che bóng phổ biến nhất. Muồng đen là loại cây thuộc bộ đậu cao 15-20m và có bộ rễ ăn sâu. Cây chịu đựng được rong tỉa và thường được trồng làm cây che bóng tầng cao cũng như làm cây đai rừng chắn gió trong các vườn cà phê ở Tây Nguyên. Sau một nhiệm kỳ kinh tế của cây cà phê (25-30 năm) cây muồng có thể được khai thác để lấy gỗ, bình quân từ 0,5 đến 0,7m3/cây, gỗ muồng đen thuộc loại cứng nên có thể dùng làm đồ mỹ nghệ và có giá trị kinh tế khá cao. Cây keo dậu có tán thưa, lá kép, cành nhỏ nhưng dai nên ít đỗ gãy, dễ nhân giống bằng hạt, rễ ăn sâu và có nhiều nốt sần.
         Hiện nay, ở Dak Lak cũng như nhiều nơi trên thế giới, nông dân có khuynh hướng loại bỏ dần cây che bóng và đầu tư thêm phân bón, nước tưới để đạt được năng suất cao hơn. Trong những năm qua, biện pháp loại bỏ cây che bóng được xem như là một tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong nghề trồng cà phê ở Tây Nguyên và không thể phủ nhận tác dụng tăng năng suất của biện pháp này. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của dịch bệnh và tình trạng hạn hán thiếu nước tưới trong những năm gần đây khiến nhiều người quan ngại về tính bền vững của biện pháp loại bỏ cây che bóng trong nghề trồng cà phê. Bài học kinh nghiệm ở miền Bắc trong những năm 1960 đã cho thấy tác hại của biện pháp này. Cùng với việc loại bỏ cây che bóng, vườn cây đã đạt được những vụ bội thu nhưng sau đó sâu bệnh phát triển mạnh, đặc biệt là sâu đục thân cà phê chè (Xylotrechus quadripes) cùng với tác hại của sương muối khiến nhiều vườn cây kiệt sức và không còn khả năng phục hồi...
         Chính vì vậy, với quan điểm duy trì sự phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế cũng như môi trường., việc trồng cây che bóng cần phải được xem xét lại một cách toàn diện và hết sức nghiêm túc.
         Việc trồng xen các cây hàng hóa lâu năm trong vườn cà phê ngày càng được chú ý và dễ được nông dân chấp nhận hơn là trồng cây che bóng. Đa dạng hóa sản phẩm chẳng những có tác dụng giảm thiểu những rủi ro do biến động của thời tiết, sâu bệnh và giá cả mà còn có thể nâng cao thu nhập của nông dân nhờ các sản phẩm thu hoạch từ những cây trồng xen. Cây trồng xen còn có tác dụng che bóng cho cây cà phê, hạn chế quá trình bốc thoát hơi từ vườn cà phê vì vậy góp phần giảm bớt lượng nước tưới trong mùa khô. Vấn đề này đã có nhiều công trình được công bố. Tại Ấn Độ cây tiêu trồng xen trong vườn cà phê trên các cây choái sống như vông, sồi lá bạc, cây muồng anh đào. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về năng suất của cà phê trồng xen và trồng thuần nhưng thu nhập của nông dân tăng cao nhờ các sản phẩm từ cây trồng xen trong khi chi phí tăng thêm không đáng kể. Mặt khác, do thời vụ thu hoạch của các cây khác nhau nên trồng xen còn tạo công việc làm cho một số lao động trong suốt cả năm. Kết quả nghiên cứu của Viện KHKT Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy một số mô hình trồng xen với nhiều triển vọng phát triển nhanh trong sản xuất: cây quế được trồng xen trong vườn cà phê với mật độ 440 cây/ha không những không ảnh hưởng đến năng suất cà phê so với trồng thuần mà còn có tác dụng che bóng cho cây cà phê. Sầu riêng cũng là loại cây trồng thích hợp để trồng xen trong vườn cà phê nhờ tán lá thưa, bộ rễ ăn sâu, giá trị kinh tế cao, thu nhập của người nông dân trồng xen có thể cao hơn 24-30% so với trồng thuần cà phê [5]. Ở các mô hình trồng xen cây lâu năm, các chất dinh dưỡng trong đất đều tăng cao đặc biệt là hàm lượng chất hữu cơ tăng 24-26%, tiểu khí hậu trong vườn cây được cải thiện. Một số mô hình trồng xen tiêu trong vườn cà phê bằng cách cho tiêu bám trên cây keo dậu ở huyện Cư M’Nga (Dak Lak) cho thấy phối hợp này chẳng những có hiệu quả kinh tế cao mà còn mang tính bền vững vì cây cà phê cũng như cây tiêu được bảo vệ khỏi tình trạng kiệt sức và sâu bệnh cũng được hạn chế ở mức thấp nhất.
         Tóm lại, trồng xen các cây hàng hóa lâu năm trong vườn cà phê có thể xem như là mô hình nông lâm kết hợp và có tính khả thi cao, các mô hình trồng xen quế, sầu riêng, tiêu, cây ăn quả trong vườn cà phê đã được thực hiện với quy mô hàng trăm ha ở Dak Lak và cần được nhân lên rộng rãi trong sản xuất. Việc thực hiện các mô hình này đã giúp nông dân tăng thêm thu nhập đồng thời cải thiện được môi trường và giảm bớt áp lực nước tưới trong mùa khô vốn rất căng thẳng trong những năm gần đây ở Tây Nguyên.

Ngày gửi:21/04/2007 Số lần xem:838

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN