Nguyễn Hữu Trí
Cùng với toàn miền Nam, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân Dak Lak trong chiến dịch Xuân Mậu Thân - Buôn Ma Thuột đã góp phần tạo nên bước ngoặt lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Lần đầu tiên kể từ những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, một cuộc tấn công toàn diện về quân sự, chính trị, binh vận quy mô lớn xẩy ra giữa lòng thị xã Buôn Ma Thuột, làm thiệt hại nặng tiềm lực quân sự của kẻ thù từng dày công xây dựng trên mười năm, lôi cuốn hàng vạn đồng bào các dân tộc từ các vùng căn cứ kháng chiến, vùng tranh chấp đến vùng địch tạm chiếm tham gia.
Ở thời điểm đó, nếu so sánh thực lực của hai bên trên chiến trường thì chắc chắn ít người hình dung được một cuộc tấn công như vậy có thể nổ ra. Bởi vì các ứng số so sánh đó giữa ta và địch sẽ là một số âm. Nhưng kết cục lịch sử đã ghi nhận điều ngược lại. Kẻ thù đã bàng hoàng, khiếp sợ và nó lại là tiền đề cho những suy sụp tiếp theo đến suy sụp hoàn toàn của cái gọi là sức mạnh Mỹ - Nguỵ.
Trong rất nhiều nguyên nhân thắng lợi và bài học được rút ra, ở phạm vi địa phương hiện rõ nhất sự thắng lợi của những đòn nghi binh chuẩn xác, những vụ binh biến bất ngờ và lòng sôi sục cách mạng của quần chúng 3 vùng mà Đảng bộ đã dày công xây dựng từ nhiều năm cho đến tận đêm Mậu Thân nổ ra.
Đêm trước Mậu Thân
Đó là thời điểm nửa cuối năm 1967 và đầu tháng 1 năm 1968. Thời gian này, hội nghị Trung ương lần thứ 7 với cách nhìn toàn cục tình hình miền Nam đã đề ra chủ trương: “Đưa chiến tranh vào thành thị, nhất là đánh vào thành phố, thị xã, thị trấn và trung tâm đầu não của địch. Kết hợp công kích quân sự với khởi nghĩa của quần chúng”. Chủ trương này đồng thời cũng là chỉ lệnh cho các tỉnh. Tiếp thu chủ trương của Đảng, Tỉnh uỷ Dak Lak đã xem xét lại toàn bộ thực lực cách mạng của mình và xác định. “Quần chúng nhân dân cả nông thôn và thành thị trong tỉnh có tinh thần cách mạng rất cao, đặc biệt là vùng căn cứ, và phần lớn ở vùng tranh chấp đã được tổ chức tốt, có khả năng huy động kéo vào thị xã cướp chính quyền”. Về quân sự, đến lúc này ngoài trung đoàn chủ lực 33 (còn gọi là trung đoàn Vĩnh Phú) tiểu đoàn 29 độc lập do trên tăng cường cho tỉnh, ta có một tiểu đoàn 301 một đại đội bộ binh 303, một đại đội trợ chiến 314, ba đại đội đặc công 308, 309, 310 và một số phân đội gồm cối hoả lực 82, vận tải, công binh, thông tin, trinh sát... và trên 100 các chiến sỹ ở các lực lượng huyện đội được trang bị vũ khí. Về năng lực, từ chỗ đánh nhỏ và tập trung chống càn là chủ yếu, lúc này ta đã có thế tác chiến tiểu đoàn tập trung đánh vào thị xã, quận ly. Năm 1967 các lực lượng võ trang tỉnh đã đánh 113 trận, trong đó có nhiều trận tập kích quận lỵ Phước An, Phú Nhơn, Lạc Thiện, sư đoàn 23, tiểu đoàn 232 pháo binh địch... mặt dầu thực tế so sánh lực lượng trên chiến trường thì bộ đội ta thua hẳn địch về số lượng và trang bị kỹ thuật, khả năng cơ động. Song Tỉnh uỷ xác định: “Đây là lực lượng được rèn luyện, thử thách có kinh nghiệm, được lãnh đạo chặt chẽ. Ta đủ khả năng tham gia chiến dịch.
Trên mặt trận binh địch vận, sự phát triển nhanh các cơ sở nội tuyến trong mấy năm gần đây đã tạo nên một lực lưọng quan trọng nằm ngay trong lòng địch, nhất là trong các cơ quan đầu não của chúng như ở sư đoàn bộ binh 23, tiểu khu Dak Lak, trung đoàn thám kích, kho Mai Hắc Đế, sân bay L19, khu pháo binh, khu công binh Mỹ, toà hành chính…
Ở các quận lỵ, các khu tập trung dân và thị xã Buôn Ma Thuột phong trào quần chúng đã có những bước phát triển khá. Các cơ sở chính trị, binh vận đều đã được phát triển đều trong các đơn vị mục tiêu quan trọng. Đặc biệt ở thị xã Buôn Ma Thuột các đối tượng này đều đã được thử thách và đang náo nức chờ dịp lập công.
Từ tình hình và nhiệm vụ trên, Tỉnh uỷ, Thị uỷ đã bổ sung cán bộ Đảng viên, tăng cường sự lãnh đạo các mặt binh vận, chính trị, quân sự cho nội thị. Những cán bộ ưu tú trong các cơ quân dân chính Đảng tỉnh, huyện có kinh nghiệm hoạt động trong lòng địch được tăng cường đầy đủ cho mặt trận này. Theo đó quần chúng trong các ấp được tập hợp theo ngành, giới, các lực lượng trong lòng địch được phân loại, tập huấn chính trị, chuyên môn để sẵn sàng nhận nhiệm vụ.
Ngày 6 tháng 12 năm 1967, mệnh lệnh tấn công và nổi dậy gọi tắt là kế hoạch N32 của Thường vụ Khu uỷ khu 5 được truyền đi làm nức lòng chiến sĩ và quần chúng cách mạng cả tỉnh. Tỉnh uỷ và Ban chỉ huy mặt trận kiểm tra lại quá trình chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch, thông qua lần cuối kế hoạch tấn công và nổi dậy toàn tỉnh, đặc biệt thống nhất kế hoạch chi tiết tấn công các mục tiêu chủ yếu trên địa bàn thị xã Buôn Ma Thuột. Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ thị cho ban binh vận cùng phối hợp với thị ủy, thị đội khẩn trương báo cáo phân loại khả năng, sở trường tác chiến của từng loại cơ sở trong hàng ngũ địch để đưa ra sử dụng cho chiến dịch. Tỉnh uỷ và Ban chỉ huy mặt trận cũng quyết định, nhân lúc địch tăng cường tiềm lực tại thị xã, ta cần có những quả đấm quân sự đánh nghi binh thật chuẩn xác ở một số nơi, đồng thời tạo những đòn binh biến bất ngờ từ bên trong để tiêu diệt một phần sinh lực của chúng và tạo thêm sự rối loạn cho địch.
Chủ trương đó đã là tiếng còi khai cuộc cho những trận đánh bất ngờ, táo bạo và đầy hiệu quả của các lưc lượng vũ tramg của tỉnh, huyện, tự vệ mật và nội tuyến trong lòng địch vào những ngày cuối năm 1967 và đầu năm 1968.
Đòn nghi binh chuẩn xác
Cuối năm 1967, bọn địch ở Plêi Ku thu được những tin tình báo cho biết có khả năng cách mạng sẽ tấn công vào dịp Tết, còn tại Quy Nhơn, an ninh quân đội nguỵ nhặt được một số băng ghi âm mà chúng nghi là cách mạng đã chuẩn bị phát trên đài phát thanh sau khi chiếm được Buôn Ma Thuột. Như vậy, bọn cầm đầu Sư đoàn 23 đã đánh hơi biết là ta sắp đánh lớn. Nhưng đánh vào đâu? Plei Ku cửa ngõ tiền tiêu hay Buôn Ma Thuột hậu cứ an toàn này? Để lần mò ra điều đó, bọn chúng tung ra vùng ven toàn bộ tiểu đoàn thám kích trung đoàn 45 và lực lượng quân báo sư đoàn 23 nhằm tìm kiếm dấu vết quân giải phóng nhưng tuyệt nhiên không có dấu hiệu nào cho biết có sự di chuyển của quân ta xung quanh thị xã Buôn Ma Thuột và các quận lị.
Chuyện kể rằng trung đoàn 45 lùng sục vùng bắc Buôn Ma Thuột, bắt dân đồn điền Mê Wăl ra tra khảo hòng moi tin tức về lực lượng ta ở vùng đó. Nhưng hết ông già đến em bé đều nhất mực trả lời: không có lính giải phóng ở đây chỉ có lính ông Thiệu thôi. Còn lính của ta – tiểu đoàn 2 trung đoàn 33 phục kích ở bìa rừng, bìa rẫy, nơi đồng bào đã từng ra báo tin địch càn, đã phải nằm im chịu đựng trước cảnh đó, vì quân lệnh bảo mật không dám ra tay hành động.
Tuy vậy, địch vẫn tăng cường phòng thủ. Chúng bố trí lại lực lượng, tập trung vào những nơi xung yếu nhất như: rút bớt quân chiếm đóng từ hướng quận lỵ Phước An sang phía Bắc đường 14, rải đều từ Buôn Hồ đến Cheo Reo và tăng thêm quân chốt chặn đèo Hà Lan, một điểm cao lợi hại cách Buôn Ma Thuột 20 km về phía Bắc. Ở hướng buôn Ky, đài phát thanh và buôn Gram (Tây Nam và Đông Nam thị xã), địch tăng gấp đôi quân đồn trú tại các ấp chiến lược. Ban đêm, 80% xe bọc thép được điều ra án ngữ các cửa ngõ ra vào nội thị, đặc biệt là cổng số 1, cổng số 3, ấp Châu Sơn và vườn hoa – đèn 3 ngọn. Các đồn bốt, chốt điểm của thị xã đặt trong tình trạng báo động sẵn sàng chiến đấu và được trang bị thêm các thiết bị chống hoả lực bắn thẳng của ta.
Tại thời điểm này, các lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh được lệnh mở những đợt tập kích nhỏ, bất ngờ nhằm vào các chốt điểm lẻ trên các tuyến vòng ngoài Buôn Ma Thuột để căng kéo địch ra. Thực hiện mệnh lệnh trên, lần lượt các mục tiêu ven thị, ven quận lỵ, dọc các trục lộ đều bị các thứ quân của ta trên địa bàn tấn công. Với lối đánh nhanh, rút nhanh, nhằm vào nhiều mục tiêu, nhiều hướng, ta đã làm cho địch phải bị động đối phó khắp nơi, buộc chúng phải bộc lộ những sơ hở về phòng thủ, từ đó thực hiện những trận đột kích bất ngờ, tiêu hao sinh lực địch, điều quan trọng hơn là chúng không thể nào phán đoán nổi trọng tâm các hoạt động quân sự của ta trên chiến trường Buôn Ma Thuột.
Ngày 04/01/1968, Ban chỉ huy mặt trận quyết định hợp nhất các đại đội đặc công 308, 309, và 310 của tỉnh thành tiểu đoàn đặc công 401(1). Ngay đêm đó, nhân lúc địch tập trung quân và phương tiện chuẩn bị càn ra vùng ven, đơn vị này đã luồn sâu vào thị xã, tập kích sân bay L19 bằng xung lực và pháo kích, mở màn cho những quả đấm vũ trang tiền tổng tấn công. Kết quả trận đánh khiến địch bất ngờ, sửng sốt: 2 lô cốt bảo vệ sân bay bị đánh sập, 15 máy bay bị phá hỏng và 73 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Đêm hôm sau, đại đội 308 một lần nữa luồn vào thị xã tấn công dinh tỉnh trưởng.
Để đối phó với tình hình, chúng không còn cách nào hơn là huy động mọi lực lượng vũ trang, kể cả cảnh sát dã chiến, thám báo, biệt kích, tổ chức nhiều cuộc lùng sục vào các vùng dân cư xung quanh thị xã, quận lỵ, các đồn điền cà phê, cao su và những vùng giáp ranh mà chúng nghi ngờ có bộ đội ta trú quân. Nhưng một lần nữa, các cuộc hành quân của địch đều vô hiệu vì không hề thấy lực lượng quân giải phóng đâu cả. Và không hề có dấu hiệu nào cho thấy ta sắp sửa tấn công lớn vào thị xã.
Nửa tháng tiếp theo các sự kiện trên, tình hình Buôn Ma Thuột và các quận lỵ trở lại yên tĩnh. Bỗng nhiên, vào đêm 21/01/1968, quân ta trả lời chúng bằng một trận tập kích dữ dội. Tiểu đoàn 301 dùng 2 đại đội bộ binh với lối đánh bất ngờ (bộ binh đặc công hoá) tấn công địch và hỗ trợ đắc lực cho bộ đội đặc công 401 đánh mật tập vào chi khu Lạc Thiện, ấp Liên Sơn và các đồn bốt xung quanh, tiêu diệt gần 100 tên địch rồi nhanh chóng rút ngay trong đêm, không để lại dấu vết.
Bộ đội ta lại liên tục mở những đợt tấn công các ấp chiến lược quan trọng của địch ở phía Bắc thị xã, gồm ấp buôn Trinh, ấp buôn Win, ấp Cuôr Đăng và hai lần phục kích địch trên đèo Hà Lan, gây cho chúng những tổn thất lớn về sinh lực.
Cùng thời gian trên, tại thị xã Cheo Reo và quận lỵ Đức Lập, lực lượng bộ đội địa phương hai huyện H3 (Phú Bổn) và H8 (Đức Xuyên) cũng thực hiện những trận tấn công nhỏ ở nhiều hướng khiến cho địch vốn đang bối rối càng bị căng kéo thêm và lâm vào tình trạng bị động về phòng thủ.
Những đòn tấn công làm tiêu hao sinh lực địch trước giai đoạn tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân Dak Lak đạt hiệu quả trên cả mức dự kiến, là khúc dạo đầu cho bản hợp xướng 3 mũi giáp công quân sự, chính trị, binh vận của quân và dân Buôn Ma Thuột trong cuộc tổng tiến công, tổng nổi dậy mùa xuân 1968 lịch sử.
Những vụ nổ binh biến bất ngờ
Trong rất nhiều vụ nổ binh biến diễn ra nối tiếp hoặc đồng thời với đòn tấn công quân sự vào thời gian này, có hai vụ làm cho địch thiệt hại nặng nề và bàng hoàng khiếp sợ nhất, một đánh kho Mai Hắc Đế, một đánh và cơ quan sư đoàn bộ 23, đầu não quân chủ lực nguỵ ở Tây Nguyên.
Kho Mai Hắc Đế là kho đạn lớn nhất Tây Nguyên lúc bấy giờ, nằm ở phía Tây Nam thị xã, cách sư đoàn bộ 23 gần hai cây số. Do nhu cầu tăng cường tiềm lực quân sự ở hậu cứ Buôn Ma Thuột và để tránh bị thiệt hại lớn trước các cuộc tấn công của quân dân các tỉnh vùng ven biển, trong tháng 12 năm 1967, địch đã vận chuyển thêm hàng ngàn tấn bom đạn từ Nha Trang lên dự trữ tại đây.
Về cấu trúc, kho Mai Hắc Đế là một hệ thống hầm chứa liên hoàn kiên cố, nằm sâu dưới mặt đất. Bên trên còn được đắp đất cao thành từng quả núi nối tiếp nhau chồng chéo thành từng dãy, thách thức các loại đạn cối và pháo mặt đất của ta tấn công từ xa. Xung quanh căn cứ là một hệ thống gồm nhiều lớp hào kẽm gai dày đặc có lính tuần tra canh gác nghiêm ngặt suốt ngày đêm. Lực lượng ta đã nhiều lần dự kiến tiêu diệt căn cứ này bằng lối đánh tập kích hoả lực hoặc sử dụng bộ binh. Nhưng nếu dùng hoả lực cối 82 từ bên kia suối Đốc Học bắn qua, quá lắm cũng chỉ làm thành những ổ gà lỗ chỗ trên mặt các dãy núi tự tạo. Nếu đánh bằng bộ binh thì lại càng khó bởi hệ thống cấu trúc bố phòng phức tạp của khu vực kho. Từ bao năm nay, mục tiêu này hầu như chưa hề bị đánh, vì vậy, Mai Hắc Đế đã là khu kho an toàn nhất của cả vùng chiến lược miền Trung này của Mỹ Nguỵ. Lần này, phương án tối ưu được Thường vụ Tỉnh uỷ nhất trí là dùng nội tuyến đánh bằng chất nổ, mà người thực hiện là đồng chí Nguyễn Luyện, cơ sở cách mạng trong đại đội sửa chữa quân cụ khu kho Mai Hắc Đế.
Đêm 18 rạng ngày 19/01/1968, những tiếng nổ khủng khiếp bất ngờ phát ra từ hệ thống hầm chứa kho Mai Hắc Đế. 12 trong số 16 nhà kho liên hoàn đổ sập trong ngọn lửa đỏ rực cả góc trời phía Tây Nam thị xã. Địch vội vàng báo động và đưa lực lượng đến cứu chữa nhưng vô hiệu. Kho Mai Hắc Đế cháy và nổ liên tục trong 2 ngày đêm, 4.200 tấn bom đạn bị phá huỷ hoàn toàn, số còn lại bị hư hao nặng nề. Đó là chưa kể có hàng trăm nhân mạng trong đội quân đặc biệt bảo vệ và đồn trú tại chỗ hoặc chung quanh khu vực nhà kho bị tiêu diệt và bị thương; nhiều xe cộ, phương tiện bị phá hủy. Sau vụ nổ, bọn địch trong các căn cứ kinh hoàng, ngao ngán. Chúng không hiểu được điều gì sẽ xảy ra trong những ngày tiếp theo. Thì đêm 21 tháng 01 bộ đội 301 tập kích và vào quận lỵ Lạc thiện (như đã nói trên).
Hơn một tuần sau, một vụ nổ khác tại sư đoàn bộ 23 lại bồi thêm một đòn chí mạng vào tinh thần của quân đội địch. Sáng hôm đó (21/01/1968) như thường lệ, trung sĩ Nguyễn Sen (vốn là cơ sở binh vận thị xã), lái xe của tên trung tá trưởng phòng hành quân sư đoàn 23 chở hắn đến Sư đoàn bộ chủ trì cuộc họp chuẩn bị hành quân càn quét vùng căn cứ. Khi bọn sĩ quan của phòng tham mưu và các đơn vị trực thuộc tề tựu đông đủ, Nguyễn Sen bóc một cây thuốc Rubi vui vẻ mời khắp lượt những tên dự họp. Sau đó, đặt cây Rubi còn lại trên bàn nước, anh rời phòng họp lên xe phóng ra khỏi Sư đoàn.
15 phút sau, khi chiếc xe Jeep mang bảng hiệu “Đại bàng” lọt qua khỏi vọng gác cuối cùng trên đường 14 thì một tiếng nổ lớn phát ra từ cây thuốc Rubi, đánh sập cả tầng nhà nơi bọn chúng đang họp. Gần 60 sĩ quan chết và bị thương. Địch trong thị xã vội vàng báo động khắp nơi và cho khép chặt các ngả đường, nhưng cơ sở ta cùng với chiếc xe Jeep đại bàng và 2 tự vệ mật đã đến căn cứ Ea Na an toàn, đang tường trình việc thực hiện nhiệm vụ với đồng chí Bí thư Thị ủy(1).
Ngoài những vụ nổ bất ngờ, táo bạo kiểu như trên, hoạt động của lực lượng biệt động, tự vệ, an ninh mật cũng đã khiến cho địch hoang mang, khiếp sợ. Liên tiếp trong thời gian đó, nhiều tên ác ôn, mật vụ, chỉ điểm lợi hại đã bị trừng trị đích đáng, trong đó có tên trung tá tham mưu trưởng Sư đoàn 23, tên Aán tình báo Mỹ, Tư Điền đại diện xã. Quán cà phê Trúc, rạp chiếu bóng Lô Đô là nơi bọn sĩ quan thường lui tới cũng bị đánh mìn và lựu đạn. Vì vậy một số tên ác ôn ban đêm không dám ngủ ở nhà mà phải vào ngủ tập trung trong khu quân sự.
Trong khi đó, những động tác cuối cùng của lực lượng cách mạng thị xã chuẩn bị cho giờ G đã được hoàn tất. Các lực lượng bộ đội chủ lực tăng cường, bộ đội tập trung của tỉnh, bộ đội huỵện đã sẵn sàng ở vạch xuất phát, ở nơi xa nhất thị xã, bà con vùng căn cứ H9, H10, H1… cùng với nhiều vùng căn cứ vùng nông thôn tranh chấp đã sắp xếp xong đội ngũ, chờ lệnh tiến về cùng với cả tỉnh chia lửa với thị xã. Phút ban của cuộc tấn công và nổi dậy chỉ còn tính từng ngày, từng giờ.