10 Tháng Hai 2012 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Một số kết quả về gìn giữ, phát huy có hiệu quả các giá trị VHDT
Trương Bi
Sở Văn hóa Thông tin Dak Lak
 
Từ ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc đến nay, nhất là sau 20 năm đổi mới của đất nước, việc sưu tầm, nghiên cứu, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc ở Tây Nguyên nói chung, Dak Lak nói riêng đã được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát trển kinh tế – xã hội”. “Tiến hành điều tra, sưu tầm, chỉnh lý vốn văn hóa truyền thống (bao gồm văn hóa bác học và văn hóa dân gian) của người Việt và các dân tộc thiểu số… đưa các giá trị văn hóa ấy trở lại phục vụ đời sống của đồng bào”.
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 cùng các nghị quyết của Trung ương và một số nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Dak Lak về gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trong những năm qua ngành Văn hóa thông tin (VHTT) Dak Lak đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi về công tác sưu tầm, nghiên cứu, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc.
1. Về công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể:
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong những năm qua Sở VHTT Dak Lak đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Viện Dân tộc học tiến hành điều tra, nghiên cứu, thực hiện các đề tài khoa học: Văn hóa dân gian Ê đê; Văn hóa dân gian M’nông; Luật tục Ê đê; Luật tục M’nông; Hoa văn truyền thống Ê đê, M’nông; Lời nói vần Ê đê, M’nông; Truyện cổ Ê đê, M’nông; Nghi lễ, lễ hội M’nông; Mẫu hệ M’nông; Nghiên cứu khảo cổ học tiền sử Dak Lak...Các đề tài trên hầu hết được in thành sách, phát hành rộng rãi trong đồng bào các dân tộc, được dư luận bạn đọc đánh giá cao.
Đặc biệt, trong ba năm qua, qua công tác điền dã ở cơ sở, ngành VHTT đã sưu tầm được một hệ thống danh mục sử thi, gồm 165 sử thi Ê đê, 92 sử thi M’nông, 35 sử thi J’rai. Với sự phát hiện này, đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện chương trình “sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên” (Do Trung tâm KHXH&NV Quốc gia phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên thực hiện). Bước đầu, chúng tôi đã sưu tầm được 12 sử thi Ê đê; 65 sử thi M’nông; đồng thời chọn lọc xuất bản được 5 sử thi Ê đê, 12 sử thi M’nông. Qua đây càng khẳng định Dak Lak là một trong những cái nôi sử thi của Tây Nguyên.
Song song với công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian, Ngành VHTT Dak Lak đã thường xuyên tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc (ở cấp tỉnh 2 năm một lần, ở cấp huyện 1 năm một lần); đồng thời tổ chức 12 liên hoan: văn hóa cồng chiêng, diễn tấu nhạc cụ dân tộc, hát dân ca, hội diễn văn nghệ quần chúng… nổi bật nhất là Hội voi Dak Lak – 2004 kết hợp với diễn tấu cồng chiêng (nhân kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển Buôn Ma Thuột) với sự tham gia biểu diễn của 1.200 nghệ nhân và diễu hành của 30 voi nhà, thu hút hàng vạn người xem và để lại trong lòng khán giả những ấn tượng tốt đẹp. Bên cạnh các hoạt động trên, chúng tôi đã phối hợp với các địa phương trong tỉnh tổ chức phục hồi một số lễ hội dân gian, như: lễ cúng bến nước, lễ ăn cơm mới, lễ bỏ mả, lễ cúng trưởng thành, lễ kết nghĩa anh em, lễ tâm nghết (ăn trâu mừng được mùa), lễ rước kpan v.v… Đồng thời tổ chức các lớp dạy đánh cồng chiêng, sử dụng nhạc cụ dân gian, dệt thổ cẩm, đan lát... cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Hầu hết các em học sinh dân tộc tham gia các lớp học này đều biết sử dụng các nhạc cụ dân gian và dệt thổ cẩm khá thành thạo. Trong các cuộc hội diễn văn nghệ ở cơ sở và ở tỉnh, các em đều tích cực tham gia và đạt được nhiều giải thưởng trong liên hoan.
            Về công tác sưu tầm, nghiên cứu, cải tiến nhạc cụ dân tộc, trong những năm qua Đoàn Ca múa Dân tộc Dak Lak đã cải tiến đưa vào sử dụng 18 loại nhạc cụ dân tộc như: đing năm, dàn ching k’ram cộng hưởng, đàn t’rưng, đing puốt không lỗ, đing puốt 6 lỗ, đing k’úut, ching ring aráp m’ô, ching cóc, ching đá (đàn đá), đing pâng, kipă, m’buăt… Đoàn đã xây dựng được nhiều chương trình nghệ thuật (mỗi năm 2 chương trình) mang đậm bản sắc dân tộc, tổ chức đi phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa và tham gia hội diễn khu vực miền Trung – Tây nguyên, hội diễn toàn quốc đạt nhiều giải thưởng xuất sắc.
Bên cạnh đó, Trung tâm Văn hóa Thông tin đã khai thác các loại hình văn hóa dân gian Ê đê, M’nông và đã xây dựng trên 100 chương trình văn hóa nghệ thuật, phục vụ và tham gia liên hoan toàn quốc, liên hoan khu vực, giành nhiều giải thưởng cao được dư luận khán giả hoan nghênh.
Cũng trong những năm qua, ngành VHTT đã tổ chức hai đợt tổng kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc, kết quả toàn tỉnh có: 3.375 bộ cồng chiêng (dân tộc Ê đê : 2.680 bộ; dân tộc M’nông: 627 bộ; dân tộc J’rai: 68 bộ); 8.535 nghệ nhân biết sử dụng cồng chiêng, 1.549 trống Hgơr, 1.084 nhạc cụ tre nứa; 300 nghệ nhân kể sử thi; 8.000 nghệ nhân hát dân ca, 5.500 nghệ nhân biết dệt thổ cẩm; 1.200 nghệ nhân biết kể truyện cổ; 170 nghệ nhân biết tạc tượng… Từ kết quả tổng kiểm kê này, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, đưa văn hóa trở lại phục vụ cuộc sống của đồng bào.
2.      Về công tác bảo tồn văn hóa vật thể :
Đi đôi với việc bảo tồn, phát huy văn hóa phi vật thể, công tác bảo tồn văn hóa vật thể cũng được ngành VHTT quan tâm đúng mức. Trong những năm qua, ngành VHTT đã xây dựng được hai khu bảo tàng: Bảo tàng Cách mạng và Bảo tàng Văn hóa các dân tộc, trong đó đã trưng bày hàng ngàn hiện vật, tranh ảnh, mô hình, sơ đồ, bản đồ có giá trị. Hai khu bảo tàng này thường xuyên mở cửa phục vụ đồng bào các dân tộc và khách du lịch trong và ngoài tỉnh (trung bình mỗi tháng có trên 10.000 lượt khách đến tham quan). Bên cạnh đó, Bảo tàng Dak Lak đã tiến hành sưu tầm, nghiên cứu và lập được 75 hồ sơ di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; được Bộ Văn hóa Thông tin xét công nhận 8 di tích quốc gia, đó là: nhà đày Buôn Ma Thuột; Đình Lạc Giao; nhà số 4, Nguyễn Du; hang đá Dak Tuôr; tháp Chăm Yang Prông; thác Dray Sáp; đồn điền CADA; khu thắng cảnh hồ Lăk. Hầu hết các di tích này đã được trùng tu, đưa vào sử dụng, phục vụ khách tham quan, du lịch có hiệu quả.
Trong những năm qua, Bảo tàng Dak Lak đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tổ chức nhiều đợt khảo sát ở cơ sở và đã sưu tầm được 12.000 đơn vị hiện vật về đồ gốm, đồ đá của người tiền sử và hiện vật lịch sử cách mạng hiện vật văn hóa dân tộc. Đồng thời đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật 45 điểm đã thu được trên 4.000 hiện vật đồ đá, đồ đồng (rìu, cuốc, dao, bàn mài, chiêng, ché) của người tiền sử (có niên đại 3.000 – 4.000 năm), góp phần khẳng định cao nguyên Dak Lak từ lâu đời đã trở thành nơi cư trú của người tiền sử.
3. Nhìn chung, công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc ở Dak Lak trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi, góp phần gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa. Thông quá các hoạt động này, đã giúp cho đồng bào các dân tộc hiểu rõ giá trị của nền văn hóa dân tộc mình, qua đó góp phần gìn giữ, phát huy nó trong cộng đồng.
Một số bài học kinh nghiệm:
Từ những kết quả đạt được về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong những năm qua như đã nêu trên, chúng tôi có thể nêu ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Có được những kết quả trên đây là nhờ sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, đoàn thể và sự hưởng ứng của nhân dân. Thực tế cho thấy, những nơi nào được cấp ủy, chính quyền quan tâm, các đoàn thể phối hợp chặt chẽ và được nhân dân ủng hộ thì ở đó, các hoạt động văn hóa truyền thống được phục hồi, gìn giữ và phát huy có hiệu quả.
- Thường xuyên tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, để mọi người dân biết và tham gia thực hiện.
- Phối hợp với các cơ quan Trung ương thực hiện các đề tài về sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân tộc và tổ chức phục hồi các giá trị truyền thống của các dân tộc trong tỉnh, đồng thời xuất bản các loại sách, băng hình, băng nhạc để phổ biến và nâng cao sự hưởng thụ văn hóa trong đồng bào các dân tộc.
- Tổ chức có hiệu quả ngày hội văn hóa dân tộc, liên hoan cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc, văn nghệ quần chúng, văn nghệ dân gian… từ tỉnh đến cơ sở, giúp đồng bào gìn giữ phát huy có hiệu quả các loại hình văn hóa dân tộc trong việc xây dựng đời sống cộng đồng.
- Phối hợp với cơ sở, thường xuyên mở các lớp dạy đánh chiêng, nhạc cụ dân tộc, dệt thổ cẩm, đan lát, các câu lạc bộ sinh hoạt văn nghệ dân gian… giúp cho con em các dân tộc kế thừa truyền thống cha ông tham gia gìn giữ và phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa trong việc xây dựng buôn thôn văn hóa.
- Động viên các đoàn nghệ thuật của tỉnh sưu tầm, nghiên cứu, chọn lọc, khai thác, cải tiến nhạc cụ dân tộc, xây dựng các chương trình nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa của cao nguyên Dak Lak để giao lưu, biểu diễn, phục vụ sự hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của công chúng.
- Hoạt động của Bảo tàng Dak Lak đã đi sâu sưu tầm, trưng bày, giới thiệu các giá trị văn hóa dân tộc (qua các thời kỳ) góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn văn hoá, giáo dục truyền thống dân tộc cho quần chúng nhân dân.
- Thường xuyên bám sát cơ sở, động viên đồng bào nêu cao truyền thống đoàn kết dân tộc, thực hiện tốt các đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, chống lại âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Ngày gửi:19/04/2007 Số lần xem:1030

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN