KỶ NIỆM 30 NĂM CHIẾN THẮNG BUÔN MA THUỘT, GIẢI PHÓNG TỈNH DAK LAK
(10/3/1975 – 10/3/2005)
30 NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Nguyễn Ngọc Tý
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Dak Lak
Dak Lak - mảnh đất có vị trí chiến lược về kinh tế - chính trị, an ninh - quốc phòng… của Tổ quốc. Thấy rõ vị trí trọng yếu của Dak Lak, ngay khi đặt chân xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã tiến hành nhiều biện pháp tàn bạo để bình định vùng cao nguyên này. Đặc biệt, sau cao trào Xô Việt Nghệ Tĩnh năm 1930 – 1931, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố, lùng bắt các chiến sỹ cộng sản, chúng thành lập nhà đày Buôn Ma Thuột để giam giữ hàng ngàn chiến sỹ cộng sản trung kiên của Đảng ta. Chế độ khắc nghiệt chốn lao tù không lay nổi ý chí sắt đá của người cộng sản, nhà tù đế quốc trở thành trường học cách mạng. Với sự đấu tranh kiên cường, không mệt mỏi của các chiến sĩ cách mạng, năm 1940, chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh được thành lập tại nhà đày Buôn Ma Thuột. Đây là hạt giống đỏ, gieo mầm cách mạng trên mảnh đất Dak Lak. Từ đó, trên địa bàn tỉnh ta đã dấy lên phong trào cách mạng sôi nổi của hàng vạn đồng bào, chiến sỹ, từ thành thị đến các buôn làng cùng với nhân dân cả nước tạo nên cơn cuồng phong phẫn nộ, Tổng khởi nghĩa cách mạng Tháng Tám thành công nhấn chìm chế độ thực dân, phong kiến.
Trong 30 năm chiến tranh giải phóng, Dak Lak trở thành chiến trường giao tranh ác liệt, giành giật giữa ta và địch. Theo tiếng gọi của tiền tuyến, các chiến sỹ cách mạng, các đảng viên cộng sản khắp cả nước hội tụ về đây, một lòng trung thành với Đảng, vượt qua mọi khó khăn, bền gan bám trụ, xây dựng cơ sở kháng chiến, chuẩn bị tiền đề vật chất và tinh thần quyết định cho ngày toàn thắng.
Giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước là mệnh lệnh của lịch sử, đúng 2 giờ 30 phút ngày 10/3/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực tấn công như vũ bão và làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột lịch sử.
Từ đó đến nay, mảnh đất Buôn Ma Thuột – Dak Lak đã ghi vào ký ức của thời gian như một mốc son chói lọi trong trang sử vàng của dân tộc Việt Nam.
Chặng đường 30 năm (1975 – 2005) chưa phải là dài so với bề dày của lịch sử dân tộc, nhưng đối với con người quả là sâu thẳm. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân các dân tộc Dak Lak đã vượt qua mọi gian nan, thử thách đã lập nên
những thành tích tự hào trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và công tác xây dựng Đảng.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa kết thúc, đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn to lớn. Do hậu quả chiến tranh để lại nặng nề; cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, đời sống nhân dân bị nạn đói, nạn mù chữ, dịch bệnh hoành hành, bọn phản động chống phá ác liệt; kẻ thù tiến hành chiến tranh biên giới... chỉ tính từ sau giải phóng đến năm 1980, trên địa bàn tỉnh, bọn Fulro đã giết hại 835 người, làm bị thương 1.039 người, phá huỷ nhiều tài sản...
Sau 30 năm giải phóng, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới (1986) đến nay, vận dụng sáng tạo các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, quân và dân tỉnh Dak Lak đã vượt qua muôn ngàn trở ngại, chông gai, tạo nên những bước phát triển vượt bậc, làm biến đổi sâu sắc đời sống xã hội, tạo ra thế và lực mới trên chặng đường phát triển. Trong giai đoạn mới của cách mạng, quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, điều kiện tự nhiên, thế mạnh và cơ chế quản lý mới. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và củng cố. Bằng nhiều nguồn vốn, tỉnh đã tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và nhiều công trình thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn như: cà phê, cao su, thuỷ điện…, bước đầu hình thành một số ngành sản xuất mới, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao cho đời sống, sản xuất và xuất khẩu, tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương. Ngoài ra, nhân dân đã đầu tư khá lớn vào các cơ sở sản xuất, buôn bán, dịch vụ, lưu thông hàng hoá tiếp tục phát triển. Đời sống vật chất và tinh thần của 44 dân tộc anh em được cải thiện, số hộ khá, giàu tăng lên, số hộ đói nghèo giảm xuống. Cơ sở hạ tầng ở nông thôn và thành thị được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới... tạo nên bộ mặt mới mẻ, vừa truyền thống vừa hiện đại cho mảnh đất Buôn Ma Thuột – Dak Lak sáng ngời giữa núi rừng Tây Nguyên mang đậm dấu ấn sử thi và huyền thoại.
Từ chỗ thiếu ăn, đến nay người dân Dak Lak không những đã đủ ăn mà còn có dự trữ và bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh. Năm 1976, Dak Lak mới sản xuất được 118.000 tấn lương thực, đến năm 2004 đã đạt 630.000 tấn. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao. Sau năm 1975, ngành công nghiệp của tỉnh nhà hầu như không có gì, đến nay đã có 92 nhà máy đang hoạt động với giá trị sản xuất đạt 1.002 tỷ đồng, 6 dự án thuỷ điện đang tiến hành xây dựng với số vốn 15.000 tỷ đồng... Các ngành dịch vụ, thương mại đã có những chuyển biến tích cực, từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, sức mua của nhân dân từng bước phục hồi và nâng cao. Ngành du lịch bước đầu đã có chú ý khai thác các tiềm năng về du lịch văn hoá, du lịch sinh thái nên đều tăng 14,5% trong những năm qua... Năm 1985 giá trị xuất khẩu của tỉnh chỉ mới đạt 13,5 triệu đô la thì năm 2004 đã đạt 280 triệu đô la. Thu ngân sách trên địa bàn năm 2003 lần đầu tiên Dak Lak gia nhập “câu lạc bộ trên 500 tỷ đồng” với 23 tỉnh, thành phố trong cả nước và 2004 đạt hơn 766 tỷ đồng… Những năm trước đổi mới, tiềm lực thị trường khoa học công nghệ còn nhỏ bé, đến nay thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Về giáo dục – đào tạo, mạng lưới trường lớp được sắp xếp lại, quy mô, chất lượng học sinh giỏi, đội ngũ giáo viên giỏi ngày càng tăng, đến nay Dak Lak đã hoàn thành trước kế hoạch việc phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ trong toàn tỉnh. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, hoạt động văn hoá – văn nghệ, thể dục – thể thao có nhiều tiến bộ; an ninh - quốc phòng không ngừng được tăng cường và củng cố làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, tạo môi trường chính trị bền vững để phát triển kinh tế - xã hội.
Trong 30 năm sau ngày giải phóng công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị luôn luôn được củng cố và kiện toàn. Tổ chức Đảng các cấp đều trưởng thành cả về tư tưởng chính trị và tổ chức; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng lên; nội dung, phương thức lãnh đạo từng bước được đổi mới đã trở thành nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh nhà. Đến nay, toàn tỉnh có 18 đảng bộ trực thuộc gồm 731 tổ chức cơ sở Đảng với 29.907 đảng viên. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp có nhiều tiến bộ. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng nhân dân có nhiều hoạt động phong phú, gắn liền với lợi ích của nhân dân. Những kết quả đạt trong 30 năm xây dựng và trưởng thành là những tiền đề vững chắc cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ cho những năm tiếp theo.
Càng tự hào bao nhiêu về chặng đường đã đi qua, chúng ta càng thấy trách nhiệm nặng nề của Đảng bộ và nhân dân Dak Lak đối với quê hương, đất nước trong chặng đường sắp tới. Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, Dak Lak đang đứng trước những vận hội và thách thức lớn lao trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc luôn luôn vững vàng trước những diễn biến phức tạp, đẩy lùi những thách thức khó khăn để “phấn đấu đến năm 2010, Dak Lak trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển trên mức trung bình của cả nước”.