06 Tháng Chín 2010 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Việt Nam với việc gia nhập WTO
I. Quá trình gia nhập WTO
WTO chi phối chính sách thương mại của 148 quốc gia. Hiện nay, WTO chiếm khoảng 85% tổng thương mại hàng hóa và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu.
Ngày 04/01/1995, WTO chính thức nhận đơn gia nhập của Việt Nam.
Ngày 30/01/1995, WTO thành lập Ban Công tác về Việt Nam gia nhập WTO với 38 quốc gia và lãnh thổ thành viên.

Ngày 26/08/1996, Việt Nam hoàn thành "Bị Vong lạc về chế độ ngoại thương Việt Nam" và gửi tới Ban Thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban công tác. Sau khi gửi Bị Vong lục, Việt Nam bắt đầu tiến hành minh bạch hoá chính sách thươgn mại theo yêu cầu của các nước thành viên.

Từ tháng 07/1998 đến tháng 07/1999, Việt Nam cùng Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam đã tiến hành 3 phiên họp (các phiên ngày 27-28/07/1998, 03/12/1998, 22/07/1999). Trong 3 phiên họp này, đoàn Việt Nam đã thực hiện minh bạch hóa thực trạng hệ thống và diễn biến chính sách thương mại của Việt Nam về hàng hóa dịch vụ, sở hữu trí tuệ (SHTT).
Phiên 4 (29/11-03/12/2000): Hoàn tất quá trình minh bạch hóa chính sách kinh tế, thương mại của Việt Nam về hàng hóa, dịch vụ, SHTT, đầu tư, chính sách tiền tệ và ngân hàng…
Phiên 5, 6, 7 (04/2002, 05/2003 và 12/2003): Chính thức quá trình đàm phán song phương và đa phương gia nhập WTO.
Phiên 8 (06/2004): các thành viên WTO nhất trí chuyển từ thảo luận "Các yếu tố của bản dự thảo báo cáo của Ban Công tác về Việt Nam gia nhập WTO" sang thảo luận Dự thảo báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO từ phiên họp 9 (12/2004).
Phiên 9 (12/2004): Phiên đa phương thứ 9 đã xoáy sâu vào dự thảo lần thứ nhất báo cáo của Ban Công tác cũng như các tài liệu mà Việt Nam mới cung cấp. Ngoài ra, Việt Nam trình bày những bước tiến mới trong việc sửa đổi và minh bạch hóa chính sách, đặc biệt tuyên bố sẽ đẩy nhanh tiến trình ban hành các văn bản Pháp luật liên quan tới WTO ngay trong năm 2005.
Phiên thứ 10 (09/2005) tập trung rà soát những tiến bộ đã đạt được trong đàm phán song phương về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, thảo luận chương trình xây dựng pháp luật của Việt Nam…

Ký thoả thuận kết thúc đàm phán gia nhập WTO với Mỹ, ngày 31/5/2006, tại Dinh Thống Nhất (Tp. Hồ Chí Minh) Thứ trưởng Bộ Thương Mại Lương Văn Tự thay mặt Chính phủ Việt Nam và Phó đại diện Thương mại Karan Bhatia thay mặt Chính phủ Hoa Kỳ đã ký thoả thuận kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO. Phó Thủ tướng Vũ Khoan, Đại diện thương mại Mỹ, Đại sứ Susan Schwab chứng kiến lễ ký. Mỹ là đối tác cuối cùng ký kết thỏa thuận trong số 28 nước thành viên WTO mà Việt Nam phải đàm phán đề gia nhập WTO. Sự kiện này cũng kết thúc lộ trình 11 năm kiến trì theo đuổi các vòng đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, đồng thời nó mở ra tiến trình đàm phán đa phương tiếp theo sẽ thuận lợi hơn cho nước ta.

Phiên đàm phán đa phương của Việt Nam dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 19/07/2006 tại Geneva (Thuỵ Sỹ). Đây có thể là phiên đàm phán cuối cùng để hoàn tất các thủ tục cho việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Tại phiên đàm phán này,Việt Nam sẽ thông báo về những dự luật mới vừa được thông qua trên tinh thần tuân thủ việc thực thi các cam kết gia nhập WTO, đồng thời thông báo chương trình hành động lập pháp đã được Quốc hội Việt Nam thống nhất. Cũng tại phiên đàm phán này, Việt Nam sẽ hoàn thành bản báo cáo của Ban Công tác WTO, tiếp tục trả lời nốt những câu hỏi và bổ sung ý kiến của các đối tác có yêu cầu, đồng thời tổng hợp các cam kết song phương để cho vào cả gói hồ sơ cam kết cuối cùng.
II. Những vấn đề nổi bật trong quá trình đàm phán gia               
     nhập WTO:
Trong quá trình đàm phán, có nhiều vấn đề nổi lên, đặt ra cơ hội cũng như thách thức đối với nước ta:

Thứ nhất, do xin gia nhập sau nên Việt Nam đang bị ép phải đưa ra những cam kết "WTO-Cộng" như là cái giá để được gia nhập. Việt Nam đang bị khước từ quyền điều tiết nhập khẩu nông sản và điều tiết tình trạng nhập khẩu tăng vọt sau gia nhập, cho dù những điều đó có khả năng phá hủy sinh kế của hàng chục nghìn gia đình nghèo. Các nước cũng đang đưa ra yêu cầu từ bỏ việc sử dụng hạn ngạch thuế quan và các biện pháp tự vệ đặc biệt trong WTO hiện hành. Đi đôi với yêu cầu mở cửa thị trường, các nước còn đòi Việt Nam từ bỏ trợ giá xuất khẩu khi gia nhập WTO.

Cùng với công, nông nghiệp, lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam cũng đang bị đòi hỏi rất cao. Thậm chí, những yêu cầu đối với Việt Nam về SHTT còn vượt quá Hiệp định WTO về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại.
Thứ hai, Việt Nam đàm phán gia nhập WTO trong bối cảnh WTO đang tiến hành vòng đàm phán thương mại Doha - một vòng đàm phán quan trọng mà sau khi kết thúc có thể dẫn tới nhiều thay đổi then chốt trong các điều khoản gia nhập WTO. Nhiều nước đang phát triển cho rằng, trong Hội nghị Doha vẫn còn tư tưởng "Cá lớn nuốt cá bé", bằng các biện pháp như đe nẹt (cảnh cáo Haiti và Đôminica phải chấm dứt đối đầu với Mỹ về vấn đề mua sắm của Chính phủ, nếu không muốn bị mất quyền ưu tiên thương mại với Mỹ), thỏa nhượng (EU chủ động dỡ bỏ mọi thứ thuế đánh vào hàng dệt may của Pakixtan, thừa nhận quyền chính trị hợp pháp của nhà lãnh đạo Pakixtan…); mua chuộc (cam kết sẽ viện trợ nhiều hơn như cho Nigieria, viện trợ trọn gói cho các nước vùng Caribê…), các nước giàu về cơ bản vẫn chi phối Hội nghị Doha và điều khiển theo luật chơi của mình, đặt nhiều nước đang phát triển vào thể bất lợi. Theo các nhà kinh tế học dự đoán, vòng đàm phán Doha có thể kết thúc cuối năm 2006, do đó nếu Việt Nam hoàn tất các vòng đàm phán song phương năm 2006, Việt Nam có cơ hội gia nhập WTO trước khi các quy định mới của vòng đàm phán Doha có hiệu lực.
III. Tác động của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam

1. Về đầu tư: Trước hết, Hiệp định các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) khi gia nhập WTO, như các thành viên khác, Việt Nam sẽ phải cam kết thực hiện đầy đủ nguyên tắc không được phân biệt đối xử theo Hiệp định WTO. Hiệp định TRIMs có tác động rất lớn, nó sẽ góp phần xóa bỏ các rào cản đối với đầu tư nước ngoài (ĐTNN), nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam thu hút nguồn vốn này, đặc biệt các ngành có khả năng chịu tác động mạnh như công nghiệp lắp ráp, sản xuất ô tô, xe máy, hàng điện tử, chế biến mía đường, dầu thực vật, sữa, gỗ. Mặt khác Hiệp định này còn tạo điều kiện thu hút ĐTNN vào các ngành sản xuất, chế biến các sản phẩm có lợi thế xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện các nghĩa vụ của Hiệp định TRIMs cũng đặt ra những thách thức rất lớn đối với Việt Nam trong việc duy trì mục tiêu khuyến khích sử dụng nguồn nhân lực trong nước, tăng cường xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, tạo thêm việc làm, thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp trong nước và tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Cụ thể đối chiếu với nghĩa vụ đặt ra trong Hiệp định TRIMs với các quy định trong luật pháp Việt Nam, có thể thấy rằng việc thực thi Hiệp định này rất nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chính sách thu hút ĐTNN của Việt Nam. Vì các công cụ khuyến khích ĐTNN của ta hiện nay như thuế, tiền thuê đất và những nỗ lực khác của Chính phủ dành cho các Dự án ĐTNN cũng phải giảm dần, hoặc được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa Dự án đầu tư trong nước và Dự án ĐTNN. Việc giảm hoặc loại bỏ công cụ trên là một trong những thách thức rất lớn đối với các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời làm suy giảm đáng kể sức cạnh tranh trong thu hút ĐTNN của Việt Nam.
Bên cạnh Hiệp định TRIMs, khi Việt Nam gia nhập WTO, Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu liên quan đến thương mại (TRIPs) sẽ có cơ chế hữu hiệu để bảo hộ quyền SHTT của các nhà đầu tư. Vì vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng lên, đặc biệt là các Dự án đầu tư có sử dụng công nghệ cao.

2. Về Sở hữu trí tuệ: Khi Việt Nam gia nhập WTO sẽ phải tuân thủ các quy định về SHTT theo Hiệp định TRIPs. Việc thực hiện Hiệp định TRIPs có thể mang lại tác động tích cực đối với tình hình đầu tư của Việt Nam, vì nó sẽ mang lại cảm giác an toàn cho các nhà đầu tư, từ đó giúp làm tăng nguồn vốn đầu tư và quá trình chuyển giao công nghệ mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, do những hạn chế của những nước đang phát triển, Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi thực hiện Hiệp định TRIPs, lý do là công tác bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay không hiệu quả và công bằng, lợi ích của chủ sở hữu quyền SHTT cũng như lợi ích của người tiêu dùng vẫn bị xâm hại. Nếu gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải chịu sức ép lớn trong việc đổi mới, cũng cố để thực hiện đúng các điều khoản của Hiệp định này, là vì những biện pháp trừng phạt ngặt nghèo có thể được áp dụng đối với những sai lầm trong quá trình thực hiện. Nên vấn đề cấp bách đối với Việt Nam là phải hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng luật pháp về bảo hộ SHTT.
3. Về các ngành kinh tế
3.1. Nông nghiệp: Gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều tác động tích cực cho nông nghiệp nước ta:
* Được hưởng ưu đãi của 148 nước thành viên. Việt Nam có nhiều cơ hội để đưa hàng nông sản thâm nhập vào các thị trường của thế giới. Các sản phẩm có chất lượng cao, sản phẩm tiềm năng, sản phẩm sạch sẽ có cơ hội phát triển.
* Việc xây dựng các chính sách trong nước phù hợp thông lệ quốc tế sẽ tạo thêm sức hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời nước ta có cơ hội tham gia vào các chương trình hợp tác khoa học và công nghệ, thu hút đầu tư, từ đó có thể nâng cao năng suất, đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến nông sản, tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

* Giúp cho ngành nông nghiệp Việt Nam có thuận lợi hơn trong tranh chấp chấp thương mại, hàng nông sản xuất khẩu giá rẻ sẽ dễ bán hơn trên thị trường.

* Một quyền lợi quan trọng của thành viên WTO là khả năng hưởng đến các chương trình nghị sự của WTO nói chung và khả năng đàm phán thương mại đa liên trong khuôn khổ WTO nói riêng. trở thành thành viên càng sớm, Việt Nam càng có nhiều cơ hội tối đa các lợi ích từ vòng đàm phán thương mại tiếp theo.
Những thách thức trong nông nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO:
* Sản xuất của nông dân trong một số ngành bị đe doạ, trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và việc bảo hộ thị trường nông sản nội địa bằng hàng rào thuế quan giảm, thách thức lớn nhất chính là khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp. Điều này dẫn đến một số ngành sản xuất của nông dân sẽ bị đe doạ.
* Chi phí sản xuất tăng do bảo hộ SHTT, việc thực thi quyền SHTT có thể dẫn đến người nông dân sẽ phải mua giống cây từ các nhà sản xuất giống ở các quốc gia phát triển với giá cắt cổ. Vì vậy, sẽ ảnh hưởng tới ngành sản xuất giống cây và làm gia tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, cũng như giá thành của mỗi loại nông sản.

* Trợ cấp nông sản gặp nhiều trở ngại, một trong những yêu cầu quan trọng của WTO đối với nông nghiệp là cắt giảm trợ cấp nông sản. Mặc dù về lý thuyết, các nước đang phát triển sẽ được hưởng ưu tiên (mức trợ cấp trực tiếp tối thiểu bằng 10% đối với giá trị sản lượng nông nghiệp so với 5% đối với các nước phát triển), nhưng do Việt Nam gia nhập WTO tương đối muộn nên sẽ có khả năng phải chấp nhận nhiều yêu cầu ngặt nghèo hơn. Ở nhiều ngành nông nghiệp, Việt Nam đã phải cam kết cắt bỏ trợ cấp, một số thành viên WTO khi đàm phán đã yêu cầu Việt Nam xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu từ thời điểm gia nhập. Trong khi bản chào gần đây nhất, Việt Nam đã phải cam kết sẽ không trợ cấp xuất khẩu cho cà phê kể từ thời điểm gia nhập, cho gạo, thịt lợn và rau sau 3 năm. Mặc dù Việt Nam chấp nhận những nhượng bộ về mở cửa thị trường nông nghiệp, nhưng sẽ khó có thể đòi hỏi những nước giàu, là thị trường tiêu thụ nông sản chủ yếu, cũng dành cho Việt Nam những ưu đãi tương tự.

3.2. Công nghiệp:
* Những lợi thế cạnh tranh ít ỏi có xu hướng giảm dần: Có thể nói, khả năng cạnh tranh tổng thể của ngành công nghiệp Việt Nam còn yếu so với các nước trong khu vực. Những yếu tố chủ yếu quyết định năng lực cạnh tranh của ngành là năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ, năng lực quản lý... đều còn yếu kém. Với từng mặt hàng cụ thể, Việt Nam có một số mặt hàng có thể cạnh tranh được với khu vực và thế giới, nhưng những mặt hàng này chiếm tỷ trọng quá nhỏ. Một số mặt hàng định hướng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh như may mặc, giày dép, thủ công mỹ nghệ lại có mức bảo hộ cao ở thị trường nội địa. Một số nhóm hàng khác có khả năng cạnh tranh chủ yếu ở thị trường nội địa thì lại do có lợi thế về địa lý kinh tế như các loại kết cấu thép siêu cường, siêu trọng, các loại vật liệu xây dựng cấp thấp. Lợi thế cạnh tranh của hàng công nghiệp hiện nay chủ yếu dựa trên nguồn lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên sẵn có nhưng những lợi thế này đang có xu hướng giảm dần.
Trừ một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh tương đối như hàng may mặc, giày dép, thủ công mỹ nghệ, sản phẩm nông, lâm, thủy hải sản nhiệt đới, dầu thô, than đá và những ngành có khả năng cạnh tranh yếu như sắt, thép, thiết bị điện - điện tử, giấy, hóa chất - phân bón, sợi - dệt và một số sản phẩm cơ khí… sẽ phải chịu sự cạnh tranh gay gắt, nhất là từ phía hàng nhập khẩu. Như vậy, lợi thế của các nhóm sản phẩm chủ yếu của Việt Nam sẽ ngày càng giảm, ngành công nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không phát triển, nâng cao được năng lực cạnh tranh.

* Bảo hộ của Nhà nước sẽ bị thu hẹp: Gia nhập WTO, khả năng Nhà nước bảo hộ cho các ngành công nghiệp để đối phó hiệu quả với sức ép cạnh tranh sẽ ngày càng hạn chế và bị thu hẹp. Nói cách khác, ngành công nghiệp Việt Nam sẽ buộc phải chấp nhận một cuộc chơi không cân sức và phải nỗ lực tối đa để không bị biến thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của các nước khác, mà ngược lại phải cung cấp ngày càng nhiều hàng hóa dịch vụ của mình cho thế giới. Việt Nam sẽ phải dỡ bỏ các hàng rào phi thuế (hạn ngạch, giấy phép, thủ tục hải quan, trợ cấp…) trong một thời hạn nhất định. Như vậy, sau khi gia nhập WTO, ngành công nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó khăn do không còn sự bảo hộ của Nhà nước như hiện nay.

3.3. Dịch vụ:
a/ Tác động tích cực: Dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới hiện đang có xu hướng tập trung mạnh vào khu vực dịch vụ (như giao thông, tài chính, chuyển phát nhanh, xây dựng, phân phối, môi trường, dịch vụ viễn thông, du lịch, các dịch vụ kinh doanh…). Nếu tăng được khả năng thu hút FDI từ các nước phát triển như Mỹ, EU, Nhật Bản thì sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận được công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến, từ đó sẽ tạo được điều kiện để đa dạng hóa và nâng cao chất lượng phát triển của ngành dịch vụ.
* Nguồn nhân lực sẽ được điều chỉnh lại theo hướng hiệu quả hơn cho nền kinh tế, cho phép mở rộng những ngành có lợi thế để xuất khẩu một số dịch vụ như du lịch, xuất khẩu lao động, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, vận tải...

* Giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm của các ngành dịch vụ cũng như các ngành sản xuất khác. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ở Việt Nam đến nay chưa phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh mạnh trên thị trường nội địa, trừ ngành bảo hiểm đã được mở cửa. Những doanh nghiệp độc quyền không phải lo đến cạnh tranh, hệ quả là nhiều loại dịch vụ ở Việt Nam thuộc loại cao nhất khu vực, trong khi chất lượng thấp dưới mức trung bình. Sau khi thị trường mở cửa, người tiêu dùng sẽ có điều kiện tiếp cận với những dịch vụ rẻ hơn, chất lượng và đa dạng hơn. Chi phí dịch vụ giảm, sẽ giúp giảm chi phí các ngành sản xuất khác, tạo thêm giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

b/ Tác động tiêu cực: Khu vực dịch vụ của nước ta trong hơn một thập kỷ qua phát triển yếu: thứ nhất, tỷ trọng dịch vụ trong GDP thấp, chỉ đạt 40% (các nước có thu nhập thấp là 50%, bình quân của thế giới là 60%). Thứ hai, tốc độ tăng trưởng hàng năm của khu vực dịch vụ không cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP và đang có xu hướng thấp hơn. Thứ ba, khu vực dịch vụ của Việt Nam chưa tạo ra môi trường tốt cho toàn bộ nền kinh tế phát triển, đặc biệt chưa hỗ trợ tốt cho các ngành sản xuất hàng hóa hướng vào xuất khẩu. Thứ tư, chưa xuất hiện ngành hay phân ngành dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao. Nếu không có những giải pháp ngay từ bây giờ, một viễn cảnh đáng lo ngại có thể xảy ra khi Việt Nam gia nhập WTO:
- Doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ có thể bị mất thị trường, bị phá sản hoặc phải phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài. Lý do là vì hàng loạt dịch vụ hiện nay như dịch vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thị trường, tiếp thị, kế toán qua mạng, thiết kế mẫu của Việt Nam mới hình thành, tính cạnh tranh rất thấp, nếu không chuẩn bị tốt các điều kiện phát triển gấp thì sẽ bị các doanh nghiệp nước ngoài chiếm lĩnh ngay sau khi mở cửa.
- Nếu Nhà nước không quản lý tốt, tự do hóa khu vực dịch vụ có thể gây nên sự bùng nổ các cuộc khủng hoàng theo hiệu ứng Đôminô, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng tài chính 1997. Lý do là khi đó, khả năng kiểm soát, giám sát thị trường của Nhà nước sẽ giảm đáng kể, ảnh hưởng tới nhiều chính sách về tài chính quốc gia như chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát để bình ổn kinh tế…

4. Hệ thống lập pháp: Những nguyên tắc của WTO đặt ra yêu cầu bức thiết phải cải cách hệ thống luật pháp tại Việt Nam. Hạt nhân của WTO là các quy tắc, một hệ thống pháp luật bao gồm 20 Hiệp định, 7 văn bản hướng dẫn thực hiện các Hiệp định có liên quan, ngoài ra còn có 29 tuyên bố và quyết định của Hội đồng Bộ trưởng WTO. Hơn 50 văn kiện pháp luật này hợp thành một Bộ quy tắc của WTO. Các quy tắc của WTO có thể được coi là một bản Công ước có tính đa phương, một bộ luật hành chính quốc tế. Do đó, để thực hiện các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam phải sửa đổi luật pháp nhằm "Đảm bảo các văn bản pháp luật, pháp quy và trình tự hành chính của mình phù hợp với những nghĩa vụ mà Hiệp định này quy định" (Điều 16 của Hiệp định WTO).

Nhìn chung Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc để điều chỉnh hệ thống luật pháp ngày càng phù hợp với các cam kết quốc tế. Các quy định của pháp luật Việt Nam về cơ bản đã thống nhất với các quy định của WTO. Tốc độ làm luật đã được cải thiện, thể hiện rõ trong nỗ lực xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội trong thời gian gần đây. Cải cách hệ thống luật pháp sau khi gia nhập WTO là giai đoạn tiếp theo trong quá trình hoàn thiện hệ thống luật phục vụ cho sự phát triển của Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo:
[1] Đổi mới toàn diện, phát triển nhanh và bền vững, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, Báo cáo của Chính phủ (được trình bày tại Kỳ họp thứ 9 Khoá X của Quốc hội), Hà nội, 15/5/2006.
[2] Gia nhập WTO, những tác động tới kinh tế Việt Nam và một số bài học kinh nghiệm các nước, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội Quốc gia, Hà nội, tháng 12/2005.

Ngày gửi:09/05/2007 Số lần xem:643

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN