I. Đặt vấn đề:
Bệnh Sarcosporodiosis (nhục bào tử trùng) của trâu bò đã làm ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng của đàn bò, làm giảm chất lượng thịt bò, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
Daklak có diện tích dành cho chăn nuôi gia súc khoảng 13.530 ha, trong đó đất đồng cỏ 9.890 ha. Dự kiến sau năm 2000 đất dành cho chăn nuôi khoảng 60.000 ha, trong đó đồng cỏ nằm xen kẻởđịa bàn toàn tỉnh khoảng 50.000 ha. Nhìn chung Daklak có điều kiện để phát triển chăn nuôi gia súc. Song yếu tố tàng trữ mầm bệnh, trong đó có bệnh đơn bào ký sinh ở thịt trâu bò không nhỏ, do có khu hệđộng vật hoang dã phong phú và sống gắn liền với thảm thực vật tự nhiên.
II. Nội dung nghiên cứu:
- Điều tra tỷ lệ nhiễm bệnh Sarcosporodiosis ở trâu bò tỉnh Daklak và sự phân bố của bệnh. Nghiên cứu sinh thái, vòng đời của bệnh Sarcosporodiosis và định loại đơn bào ký sinh. Kết quả:
* Trong bệnh Sarcosporodiosis ở bò thì cho, mèo đóng vai trò là vật chủ cuối cùng.
* Trong cơ thể vật chủ cuối cùng (chó, meo) Sarcocystis chủ yếu làm tổn thương ở ruột non, chưa thấy tổn thương ở cơ quan nội tạng khác.
* ở thể cấp Sarcocystis gây ra triệu chứng bệnh tích trầm trọng cho vật chủ trung gian (bò): sốt cao, bỏăn, thiếu máu nặng và chết trong khoảng thời gian từ 28-30 ngày kể từ khi gây nhiễm.
* Trong cơ thể vật chủ trung gian xảy ra quá trình vô tính của các Sporozoit, tạo nên các thể Schizont thế hệ I và II. Các thể này định vịở bào tương của tế bào nội mô của động mạch và các mao mạch.
* Những loài Sarcocystis gây bệnh phổ biến chưa thấy xuất hiện ở Daklak.
* Loài S. Cruzi có vật chủ cuối cùng là chó và các động vật ăn thịt khác thuộc họ chó chiếm tỷ lệ cao nhất: 67/201 (33,33%).
* Loài S. Huminis có vật chủ cuối cùng là người và các động vật thuộc họ linh trưởng chiếm tỷ lệ: 65/201 (32,33%)
* Loài có tỷ lệ thấp nhất là : S. Hirsuta: 53/201 (26,3%), đây là loài có vật chủ cuối cùng là mèo và các động vật ăn thịt khác thuộc họ mèo.
III. Kết quả và thảo luận:
- Trâu bò Daklak có tỷ lệ nhiễm bệnh Sarcosporodiosis là 43,95%.
- Sự phân bố của bệnh này tạm chia thành 3 nhóm sau:
* Nhóm I nhiễm Sarcocystis < 40%, gồm : Krông Nô (thấp nhất 27,5%), BMT, Krông Na, Dăk Mil, Cư Jút, Cư M'gar (cao nhất 39,39%).
* Nhóm II nhiễm Sarcocystis > 40%, gồm : Krông Buk (thấp nhất 40%), Krông Păk, Ea H'leo, Krông Bông, Ea Kar (cao nhất 49,79%).
* Nhóm III nhiễm Sarcocystis > 50%, gồm : Krông Năng (thấp nhất 54,54%), M'Drăk, Dăk Nông (cao nhất 64,78%).
IV. Kết luận:
- Bò bị nhiễm Sarcosporodiosis được phân bổở trên địa bàn toàn tỉnh.
- Chó, mèo, người và một sốđộng vật ăn thịt khác là vật chủ cuối cùng của bệnh.
- Trâu, bò là vật chủ trung gian chủ yếu của bệnh Sarcosporodiosis.
- Tại Daklak trâu bò nhiễm cả 3 loài Sarcocystis: S. Huminis, S. Hirsuta, S. Cruzi.
Hoàng Mạnh Lâm
Chi cục Thú y Daklak