02 Tháng Chín 2014 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
 Liên kết website Đóng

 
 

 

 

 

  
 Các Sở KHCN Đóng

  
Số Lượt Truy Cập :
Đang Trực Tuyến : 88
 Công nghiệp Đóng
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT
TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP THỜI KỲ 1981-1985
 
Việc phổ biến, áp dụng những thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật, sáng kiến cải tiến kỹ thuận và kết quả các đề tài nghiên cứu trong sản xuất là giải pháp tối ưu nhất nhằm rút ngắn thời gian thử nghiệm, đưa lại hiệu quả cao nhất. Thực tế cho thấy việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong công nghiệp đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn, giải quyết được những khó khăn về vật tư, nguyên nhiên liệu, cải thiện điều kiện lao động, năng suất, tiết kiệm được một khối lượng đáng kể chi phí lao động trong sản xuất.
Tiến bộ kỹ thuật ngành công nghiệp được ứng dụng tại Dak Lak trong những năm 1981-1985:
1. Sản xuất thành công 5 máy biến áp: 220V/ 110V-10A và các sản phẩm từ cao su
* Cơ quan chủ trì đề án: Sở công nghiệp.
* Cơ quan thực hiện đề án: Công ty Điện lực Dak Lak, Nhà máy Cao su Dak Lak.
* Một số thông tin cơ bản:
-         Qua thời gian ứng dụng máy biến áp ổn định các thông số kỹ thuật đảm bảo kết cấu.
-         Máy được sản xuất bằng những chất liệu tận dụng.
-         Các chỉ tiêu kỹ thuật: tần số, độ cách điện đạt yêu cầu.
-         Sản xuất bộ chấn lưu đèn nê ông 40W/220V.
-         Được chế tạo từ nguồn vật liệu, các loại biến thế hỏng.
-         Dây chuyền sản xuất bằng thủ công kết hợp cơ giới.
-         Bộ chấn lưu đã được sản xuất sử dụng đạt chất lượng tốt.
-         Sản phẩm cao su sét 50% thay chất độn than đen.
-         Nhà máy cao su 10-3 đã sản xuất thành công lốp ô tô, xe đạp, chất lợp từ cao su sét.
-         Sản phẩm mới bảo đảm các chỉ tiêu chất lượng, độ bào mòn, độ dai, độ lão hoá.
2. Chế tạo được tuốc bin xung kích 2 lần ứng dụng cho trạm thuỷ điện
-         Đã chế tạo được tuốc bin xung kích 2 lần.
-         Ứng dụng xây lắp, lắp đặt thành công 9 trạm thuỷ điện với tổng công suất 500KW.
-         Tạo được thiết bị phát điện phù hợp với điều kiện tài nguyên thuỷ năng tỉnh Dak Lak.
-         Công trình nghiên cứu này đã triển khai áp dụng tại trạm Me Van...
+ Người chủ trì thực hiện dự án: Trần Đình Đính
+ Cơ quan triển khai dự án: Xí nghiệp Khảo sát thiết kế Sở Thuỷ lợi Dak Lak.
3. Dùng cày răng một lưỡi rạch hàng thay cho khoan hố trong khâu trồng mới cà phê
-         Dùng máy K700, DT75 để kết hợp ứng dụng.
-         Quy cách hố: sâu 50cm, rộng 80cm.
-         Cày rạch hàng làm đất tơi xốp, diệt cỏ tranh tốt.
-         Dùng rạch hàng cho năng suất cao: 12,100 hố/1ca.
-         Phương pháp này tiết kiệm được 16 công tu sửa so với khoan hố.
+ Cơ quan chỉ đạo dự án: Liên hiệp các xí nghiệp cà phê Dak Lak.
+ Đơn vị áp dụng: Nông trường Cà phê Thắng Lợi, Phước An, Dak Mil.
4. Dùng máy NZ50, DT54P trong khâu chăm sóc cải tạo vườn cà phê
-         Dùng phương pháp này diệt được 40% cỏ tranh, 80% cỏ dại.
-         Làm đất tơi xốp, rễ cà phê phát triển tốt, chống xói mòn.
-         Vườn cà phê phát triển đều, tiết kiện được 16 công làm cỏ tranh và cỏ dại...
+ Cơ quan chỉ đạo: Liên hiệp xí nghiệp cà phê Dak Lak.
+ Đơn vị triển khai: Các nông trường cà phê thuộc Liên hiệp các xí nghiệp cà phê Dak Lak.
Những ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghiệp tiêu biểu trong 5 năm (1981-1985) của tỉnh Dak Lak là một thành tích đáng ghi nhận. Các sản phẩm trong công nghiệp ứng dụng đã ít nhiều góp phần phát thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Dak Lak để có được như ngày hôm nay.
 
SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1995-2000
 
   Thực hiện tiến trình Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, Dak Lak gặp nhiều cơ hội nhưng không ít thách thức. Thành tựu trong những năm đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp đã tạo những tiền quan trọng trong quá trình thực hiện CNH-HĐH. Tuy nhiên đi lên trong môi trường xuất phát điểm kinh tế của tỉnh còn thấp, việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để đầu tư vào công nghiệp, thiết bị cơ sở hạ tầng nông nghiệp. Vì thế việc đa dạng các nguồn vốn đầu tư cần huy động vốn của các doanh nghiệp, vốn ngân sách nhà nước, vốn nước ngoài nhằm giải quyết một phần khó khăn về cơ sở hạ tầng trong sản xuất nông nghiệp.
Những năm thập niên 90 thế kỷ XX tình hình trang bị máy móc của các doanh nghiệp nông nghiệp cũng như các hộ nông dân của Dak Lak ngày càng tăng. Tính đến cuối năm 1999, toàn tỉnh Dak Lak đã trang bị được 31.123 chiếc máy kéo các loại công suất 12-200 mã lực (ML), đạt 249,84/100 ha trồng cây hàng năm. Có 1.100 phương tiện vận chuyển và 2.250 xe công nông với tổng công suất trên 300.000ML phục vụ vận chuyển ở nông thôn. Tỷ lệ sử dụng máy trong khâu làm đất đạt 35,8%. Các thành phần kinh tế đã trang bị gần 40.000 chiếc máy bơm với các cở công suất khác nhau, chiếm 89,71% số lượng bơm của các tỉnh Tây Nguyên.
 
Nguồn động lực được ừng dụng giai đoạn 1995-2000: 

Năm
Máy kéo lớn
Máy kéo nhỏ
Tổng số
Số lượng (chiếc)
Công suất (ML)
Số lượng (chiếc)
Công suất (ML)
Số lượng (chiếc)
Công suất (ML)
1995
3.604
66.674
16.111
193.332
19.715
260.006
1996
4.245
78.533
17.860
214.320
22.105
292.853
1997
5.750
106.375
16.867
202.404
22.617
308.779
1998
10.015
185.278
14.056
168.672
24.071
253.950
1999
11.930
220.705
19.193
230.316
31.123
451.021
2000
12.931
239.224
20.176
242.112
33.107
481.336

 Đối với khâu thu hoạch như chế biến các loại nông sản: cà phê, tiêu, bắp cao su, bông, sắn cũng đã có những tiến bộ đáng kể. Toàn tỉnh có 450 chiếc máy sấy, chủ yếu là sấy vỉ ngang, các loại máy khác như máy sấy hình tháp, trống quay, thùng quay áp dụng ở các cơ sở chế biến ở quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên mới chỉ sấy được 30-40% sản lượng cà phê toàn tỉnh. Các doanh nghiệp sản xuất, chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh đã trang bị 18 dây chuyền công nghệ tương đối hoàn chỉnh, các cơ sở khác và các hộ gia đình chế biến với công nghệ đơn giản chưa đáp ứng được nhu cầu. Ngoài ra Dak Lak có 2 dây chuyền chế biến hạt điều với công suất 1.000 tấn/năm, 3 dây chuyền chế biến cao su với công suất 2.700 tấn/năm, 1 dây chuyền chế biến bông hạt với công suất 6 tần/giờ, 17 dây chuyền chế biến lâm sản. Ngoài ra các thành phần trang bị khoảng 1.300 máy nghiền thức ăn chăn nuôi và xay xát với các cỡ công suất khác nhau.
Tóm lại: Cơ giới hoá nông nghiệp Dak Lak trong thời kỳ này đã thực sự góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập cho người dân và từ đó cơ giới hoá có điều kiện phát triển. Sự năng động sáng tạo phát triển cơ điện nông nghiệp cho thấy các thành phần kinh tế ở Dak Lak là rất cần thiết. So với mức độ đầu tư chung của cả nước, các thành phần kinh tế ở Dak Lak đã trang bị nhiều máy móc phục vụ cho các khâu trước, trong và sau thu hoạch với mức khá cao. Riêng đầu tư nguồn động lực di động (các loại máy kéo nhỏ và lớn) là gần 250 mã lực/100ha đất trồng cây hành năm, cao gấp nhiều lần so với bình quân chung của cả nước. Ngành chế tạo máy phục vụ nông nghiệp ở Dak Lak đã tiếp cận thị trường và đóng góp trong quá trình trang bị công cụ máy móc. Công cụ cho các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, tình hình phát triển cơ điện nông nghiệp trong thời gian 1995-1999 chủ yếu là do tự phát của nông dân chưa có chiến lược tổng thể cho định hướng phát triển. Đội ngũ cán bộ kỹ thuận giỏi về tay nghề, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế.
 

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ THIẾT BỊ LÒ ĐỐT RÁC Y TẾ CÔNG SUẤT 50KG/H CHO HUYỆN KRÔNG PĂK, TỈNH DAK LAK
 
  1. Những vấn đề chung
 Vấn đề quản lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn bệnh viện đã được Chính phủ quan tâm trong thời gian gần đây. Một số văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề quản lý chất thải rắn bệnh viện đã được Chính phủ và Bộ Y tế ban hành.
Từ những vấn đề trên, tháng 5 năm 2001 Trung tâm công nghệ môi trường – ENTEC đã tiến hành dự án “Chuyển giao công nghệ và thiết bị lò đối rác y tế công suất 50kg/h cho huyện Krông păk, tỉnh Dak Lak.
 
  1. Kết quả của ứng dụng dự án:
 Đề tài đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo mô hình lò đốt rác thải y tế công suất 50kg/giờ và lắp đặt vận hành tại Trung tâm y tế huyện Krông Păk.
Lò đốt có giá thành thấp 2- 3 lần so với thiết bị ngoại nhập có công suất tương đương.
Kết quả đánh giá lò đốt: bụi, CO, NOx, SO2, CO, HCL đã được kiểm tra so sánh với tiêu chuẩn khí thải lò đốt rắn y tế TCVN 6560-1999, các chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép. Về mẫu nước thải, ngoại trừ chỉ tiêu chất rắn lơ lửng vượt quá tiêu chuẩn, các chỉ tiêu khác của mẫu nước thải đều nằm trong giới hạn A của tiêu chuẩn nước thải công nghiệp (TCVN5945-1995).
Kết quả đo nghiệm thu về tiêu chuẩn môi trường của lò: 

Chỉ tiêu
Điểm đo
Bụi (mg/m3)
SOx (mg/m3)
NOx (mg/m3)
CO (mg/m3)
HCL (mg/m3)
Trong đường ống thoát khói thải – lò đang hoạt động có tải.
 
54,35
 
28,27
 
42,68
 
35,84
 
12,87
Tiêu chuẩn khí thải lò đốt chất thải rắn y tế (TCVN6560-1999)
 
100
 
300
 
350
 
100
 
100

 
Kết qủa phân tích mẫu nước thải ra từ tháp rửa khí như sau:

Chỉ tiêu
Đơn vị
Mẫu nước thải tháp rửa khí
Tiêu chuẩn nước thải CN loại A (TCVN 5945-1995)
pH
-
6,12
6-9
Chất rắn tổng số (TDS)
mg/l
220
-
Chất rắn lơ lửng (TSS)
mg/l
78
50
COD
mg/l
37
50
BOD5
mg/l
13
20
Tổng N
mg/l
9,5
30
Tổng P
mg/l
1,7
4
NH4+
mg/l
0,06
0,1

 Đề tài đã nghiên cứu, thiết kế, chế tạo , ứng dụng mô hình lò đốt chất thải y tế công suất 50kg/giờ đang vận hành tốt tại Trung tâm y tế huyện Krông Păk đã đào tạo, hướng dẫn cho cán bộ địa phương vận hành lò đốt đạt yêu cầu. Kết quả đánh giá ứng dụng cho thấy công suất và các chỉ tiêu kỹ thuật đạt theo như thiết kế và nồng độ các chất ô nhiễm trong khí thải lò đốt đạt tiêu chuẩn Việt Nam. Trên cơ sở mô hình lò đốt rác này hiện nay nhiều bệnh viện và trung tâm y tế các huyện đã được triển khai ứng dụng. 
 
ỨNG DỤNG DÂY CHUYỀN THIẾT BỊ CHẾ BIẾN CÀ PHÊ
CỦA CÔNG TY THỐNG NHẤT TỈNH DAK LAK
 
Công ty Cổ phần Thống Nhất tỉnh Dak Lak (Tên cũ: Nhà máy Cơ khí Thống Nhất) Là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập năm 1977 với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh các mặt hàng cơ khí nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Sau hơn 25 năm hoạt động công ty Thống Nhất đã có những mặt hàng được khách hàng ưa chuộng và đạt hiệu quả kinh tế cao như: Thiết bị chế biến cà phê, các loại bơm nước , bơm hút cát, khung nhà thép, kết cấu thép xây dựng…
Khi nước ta bược vào nền kinh tế thị trường với xuất phát điểm là nền kinh tế nông nghiệp là chính. Vì thể nông nghiệp dự vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế, đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp phải đạt được sản lượng, chất lượng cao thì mới có thị trường tiêu thụ. Trước tình hình đó Bộ KH&CN và Sở KH&CN Dak Lak đã hỗ trợ kinh phí cho Công ty Thống Nhất thực hiện dự án “Thiết kế chế tạo dây chuyền thiết bị chế biến cà phê cho vùng Tây Nguyên”. Dự án này được thực hiện trong 2 năm, (năm 1998 đến năm 2000). Thời gian 24 tháng Công ty Thống Nhất đã hoàn thành được dự án và tạo được các dây chuyền chế biến cà phế có mang tính khả thi cao.
 
Kết quả của dự án và được đưa vào ứng dụng:
 

Kết quả
Công suất
Giá thành
Máy sàng TC CF
2 tấn/giờ
8,500,000
Máy xát khô liên hợp
1 tấn/giờ
215,000,000
Máy xát khô cà phê
1 tấn/giờ
6,500,000
Máy sàng phân loại cà phê
2 tấn/giờ
18,000,000
Máy tách quả cà phê xanh
4 tấn/giờ
14,044,000
Máy xat khô cà phê
0,5 tấn/giờ
1,164,000
Máy xát cà phê quả tươi
2 tấn/giờ
11,500,000
Máy xát cà phê quả tươi
5 tấn/giờ
45,000,000
Máy đánh nhớt cà phê
4 tấn/giờ
11,500,000

Với kết quả có được, Công ty Thống Nhất đã tìm được các đối tác bán thiết bị của mình. Hợp đồng bán thiết bị được ký kết với các doanh nghiệp Nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân và các hộ sản xuất nông nghiệp trong vùng Tây Nguyên. Tiêu biểu là một số công ty mua thiết bị với số lượng lớn như: Công ty Cà phê Êa Pok mua các sản phẩm với giá trị 420.000.000đ; Công ty TNHH cà phê Thu Hà (Gia Lai) mua các thiết bị với giá 120.000.000đ; Công ty Thương mại xuất nhập khẩu Gia Lai mua các thiết bị với giá trị 120.000.000đ, DNTN Phi Long mua các sản phẩm của công ty với giá trị 80,000,000đ… cho đến nay các sản phẩm chế biến cà phê của công ty Thống Nhất không những được tiêu thụ ở khu vực Tây Nguyên mà còn được tiêu thụ ở vùng Đông Nam Bộ và các vùng lân cận. Công ty đang mở rộng thị trường sang lào để chào bán các thiết bị chế biến cà phê thô.
 
 Hiêu quả kinh tế do các thiết bị chế biến cà phê mang lại:
 Khi các thiết bị xâm nhập thị trường đã được sự hưởng ứng của khách hàng, là tiền đề quan trọng cho nhà máy tiếp trục sản thiết bị tạo thêm nguồn thu nhập cho công ty. Các sản thiết bị của dự án trước mắt đã thay thế được hàng nhập nhẩu có tính năng tương đương và giá thành thấp. Người sử dụng máy chế biến của công ty tiết kiệm được điện, nước, và chất lượng cà phê chế biến đạt chất lượng xuất khẩu. tiết kiệm nhân công và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn lao động.
Với kết quả Công ty Thống Nhất đạt được, có thể nói đây là một bước tiến nổi bật trong công nghệ chế biến cà phê phục vụ cho khu vực Tây Nguyên nhằm nâng cao chất lượng cà phê nhân, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu mặt hàng nông nghiệp của vùng.
 
LÒ GẠCH KIỂU ĐỨNG
MỘT MÔ HÌNH ỨNG DỤNG HIỆU QUẢ
 
Gạch đất sét nung là vật liệu xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành, chất lượng và tuổi thọ của các công trình xây dựng. Nhu cầu gạch cho xây dựng hàng năm trên toàn quốc từ 6 - 10 tỷ viên và đến năm 2010, nhu cầu đó là 16 - 17 tỷ viên. Để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng đó, từ năm 1991, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo định hướng phát triển ngành sản xuất gạch ngói đất sét nung theo công nghệ mới nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các công trình xây dựng và đặc biệt là giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ngăn chặn việc phá rừng lấy củi làm chất đốt.
Đứng trước yêu cầu đó, ngành xây dựng đã tiến hành đầu tư xây dựng một số nhà máy gạch hệ tuynel, đưa công nghệ sản xuất gạch không nung nhằm thay thế cho các cơ sở sản xuất gạch thủ công. Đây là một công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến nhưng đòi hỏi mức đầu tư cao nên các cơ sở sản xuất thủ công có qui mô vừa và nhỏ chưa ứng dụng ngay được. Chính vì vậy việc sản xuất gạch thủ công sử dụng nguyên liệu củi đốt vẫn tiếp tục sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng vì gạch tuynet chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu.
Tỉnh có trên 200 cơ sở sản xuất nhưng chỉ có 2 nhà máy gạch tuynel, số còn lại là các cơ sở sản xuất dạng lò thủ công sử dụng nguyên liệu nung đốt bằng củi gây huỷ hoại môi trường sinh thái. Từ tình hình đó và sau khi nghiên cứu thực tế tại các dự án : Công nghệ lò gạch kiểu mới do dự án VIE/00/004 của Liên hiệp quốc (UNDP-GEF-SGP) đã được ứng dụng ở một số tỉnh phia Bắc đã đua lại kết quả cao. Sở KHCN Dak Lak, Sở Xây dựng Dak Lak đã phối hợp với Viện vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dưng đã chuyển giao 5 lò và vận hành tại huyện Krông Ana.
Lò có cấu tạo gồm hai lớp thành. Lớp thành trong là vùng chứa gạch, được xây thiết kế bằng gạch chịu lửa, ở giữa là lớp cách nhiệt dày 1m. Kích thước tiết diện lòng trong của lò có thể là: 1m x 1m; 1m x 1,5m; 1m x 2m. Chiều cao của lò là 6m nhằm đáp ứng các công suất đốt khác nhau. Lò được xếp đầy gạch ở độ cao 1,5m và được đỡ bởi một cơ cấu các thanh đỡ và dầm thép. Gạch xếp trong lò được chia làm 12 mẻ, mỗi mẻ có 4 lớp với số gạch khoảng 580 - 890 viên tuỳ theo kích thước và chủng loại gạch. Cơ cấu về cơ khí của lò cho phép lấy gạch ra từng mẻ một hoặc hai mẻ liền một lúc ở đáy lò. Gạch được xếp vào từ đỉnh lò và lấy ra ở đáy lò. Than cám được nghiền sẵn 80% định mức pha chế trong đất qua giai đoạn chế biến tạo hình, 20% còn lại được rắc lên trên mỗi lớp sau khi vào lò. Với cách xếp như vậy cộng với vỏ lò có lớp cách nhiệt tốt nên không làm tổn thất nhiệt cho các xe gòng như ở lò tuynel, rất hiệu quả về mặt năng lượng. Nguyên lý hoạt động của lò gạch liên tục kiểu đứng gồm có 3 khoang. khoang trên cùng là khoang sấy, khoang ở giữa là khoang nung, khoang ở dưới cùng là khoang làm nguội. Than đốt gạch được nghiền mịn và trộn vào đất trong công đoạn tạo hình và rắc bổ sung khi xép gạch vào lò. Nhờ sự chênh lệch áp suất và sức hút của ống khói dòng nhiệt trong lò được chuyển động từ dưới lên trên. Không khí từ đáy lò chạy qua khoang làm nguội được nóng đến khoang nung tham gia cháy, khí thải từ khoang nung chạy qua khoang sấy để sấy gạch và thoát ra ngoài nhờ hệ thống miệng thu và ống khói. Gạch được lấy ra khỏi lò theo từng mẻ ở phía đáy lò nhờ hệ xe gòng và vít me vô tận. Thời gian lấy gạch ra khỏi lò khoảng 1,5 – 2 giờ. Tuỳ theo công suất yêu cầu, ta có thể thay đổi kích thước lò hoặc xây lò thành lò đơn, lò kép, lò 3 hoặc lò 4.
Mô hình lò gạch liên tục kiểu đứng đã được ứng dụng tại 05 cơ sở sản xuất gạch ngói ở huyện Krông Ana. Đến nay, các lò gạch này đều hoạt động ổn định. Sản phẩm làm ra không đủ đáp ứng cho nhu cầu của thị trường. Chính vì vậy, việc ứng dụng công nghệ lò nung đốt liên tục kiểu đứng là một giải pháp khoa học đáp ứng nhu cầu thực tiễn cho sản xuất nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và có ý nghĩa quan trọng đối với ngành sản xuất gạch đất sét nung trong toàn tỉnh. Dây chuyền sản xuất gạch đất sét nung bằng công nghệ lò đứng là một mô hình thay thế lò nung đốt thủ công nhằm chuyển đổi ý thức sử dụng nhiên liệu từ củi sang than. Mô hình này có qui mô vừa và nhỏ nhưng công nghệ đốt lại có nhiều ưu điểm, tiên tiến, có tỷ suất đầu tư thấp, tiết kiệm nguyên liệu hơn so với lò tuynel và lò đứng thủ công và đặc biệt là rất phù hợp cho các thành phần kinh tế vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.
Kết quả thí nghiệm sản xuất gạch đất sét nung lò đứng liên tục tại huyện Krông Ana thành công cho thấy, đây là một giải pháp khoa học giúp cho tỉnh Dak Lak hoạch định được kế hoạch sản xuất gạch đất sét nung để vừa đáp ứng nhu cầu xây dựng, vừa giảm thiểu được tình trạng ô nhiễm môi trường cũng như hạn chế được tình trạng chặt phá rừng.

 In Ấn   
 Thông báo Đóng
  
   Đóng
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN