HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TỈNH DAK LAK 30 NĂM NHÌN LẠI
Từ sau ngày đất nước thống nhất, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc tỉnh Dak Lak bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khoa học công nghệ cũng như các ngành khác hình thành và phát triển trong điều kiện vô cùng khó khăn, đồng bào các dân tộc thiểu số sống du canh du cư, nạn đói triền miên; cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu; đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật quá ít ỏi lại phân bố không đều giữa các vùng.
Có thể nói, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, các Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ, hoạt động KHCN đã vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu nổi bật trên các mặt công tác, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của tỉnh, tạo tiền đề cho những bước phát triển mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn trong những giai đoạn tiếp theo.
KHCN mười năm sau ngày giải phóng (1975-1985)
Trong bối cảnh chung của tỉnh, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, hoạt động KHCN tập trung vào một số vấn đề trọng tâm như: điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh; từng bước xây dựng nguồn lực KHCN, hình thành hệ thống trạm trại, phòng thí nghiệm, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ KHKT; nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm nền tảng cho việc đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Về công tác điều tra cơ bản, kết quả Chương trình Tây Nguyên I đã tập trung nghiên cứu, điều tra về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH của tỉnh giúp xác định các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, định hướng quy hoạch và khai thác tiềm năng phục vụ phát triển KT-XH. Giai đoạn này, các cơ quan khoa học địa phương đã tích cực phối hợp với những đơn vị và các nhà khoa học ở Trung ương giải quyết những chuyên đề lớn cho tỉnh, như: Xây dựng tập Atlas Dak Lak: Nghiên cứu hệ sinh thái cây cà phê; Điều tra về tài nguyên rừng Dak Lak; Đánh giá hiện trạng nước ngầm; Điều tra về trữ lượng và chất lượng một số mỏ khoáng sản và đã phát hiện các mỏ vật liệu xây dựng, đá quý, nước khoáng và khí CO2, than bùn, bô xít... với trữ lượng lớn và chất lượng tương đối cao. Đây là những luận cứ khoa học quan trọng giúp cho công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH trong những năm tới.
Về lĩnh vực nông nghiệp, hoạt động KHCN chú trọng đẩy mạnh ứng dụng TBKT trong thâm canh cây lúa nước, phát triển mạnh hoa màu trồng cạn và cây công nghiệp, từng bước hình thành các vùng chuyên canh lớn như cà phê, cao su, cây lương thực và xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở công tác điều tra cơ bản đã được kết luận. Nổi bật trong giai đoạn này là áp dụng thành công các giống lúa IR8423, NN2B, IR8, IR5 trên 90% diện tích, đạt năng suất 40 tạ/ha; cây lúa cạn cũng đã xác định được một tập đoàn giống ổn định, đạt năng suất 13 tạ/ha; cây ngô vàng cũng tăng nhanh diện tích và sản lượng; cây cà phê đã áp dụng quy trình kỹ thuật thâm canh, tưới nước hợp lý. Nhờ đó đã từng bước giải quyết được vấn đề lương thực tại chỗ và tạo ra một số hàng nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.
Về công tác giáo dục, trước thực trạng còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và thiếu thốn đội ngũ giáo viên, việc dạy và học đối với học sinh người dân tộc thiểu số còn nhiều yếu kém, ngày 01/6/1980 UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 345/QĐ-UB về việc thành lập Ban biên soạn chữ dân tộc để tiến hành nghiên cứu biên soạn sách giáo khoa dân tộc, nghiên cứu phương pháp giảng dạy và tiến hành thực nghiệm một chương trình song ngữ Êđê - Việt ở Trường PTCS trong vùng đồng bào dân tộc Êđê. Với sự góp sức của các nhà khoa học xã hội, từ đó chương trình song ngữ ngày càng phát triển, bộ sách công cụ tiếng Êđê, M’Nông tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện, số lượng học sinh dân tộc học song ngữ ngày một tăng lên.
Lần đầu tiên sau 10 năm giải phóng, một Hội nghị khoa học về Tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Dak Lak được tổ chức tại Buôn Ma Thuột với trên 200 nhà khoa học, quản lý của trung ương và địa phương tham dự.Hội nghị đã đánh giá một cách hệ thống các đặc điểm, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; các quy luật phân bố của tự nhiên; hiện trạng sử dụng tài nguyên; đặc điểm KT-XH của tỉnh Dak Lak sau ngày giải phóng; đề xuất hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và nghiên cứu tiếp theo. Đó chính là cơ sở, là căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển KT-XH cũng như lập sơ đồ phân bố và phát triển lực lượng sản xuất của tỉnh. Hội nghị còn là dịp tốt để các cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học ở trung ương và khu vực gặp gỡ, trao đổi, mở ra một số hợp tác toàn diện trong nghiên cứu khoa học trên lãnh thổ Dak Lak.
KHCN 10 năm đầu của công cuộc đổi mới (1986-1995)
Giai đoạn này là thời kỳ mà toàn Đảng, toàn dân cả nước nói chung và Dak Lak nói riêng thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo đường lối Đại hội lần thứ VI, VII và VIII của Đảng. Dưới ánh sáng Nghị quyết 26 NQ/TW (30/3/1991) của Bộ Chính trị về “Khoa học công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”, Nghị quyết Đại hội X, XI và XII Tỉnh Đảng bộ... hoạt động KHCN địa phương với sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, sự phối hợp có hiệu quả của các ngành hữu quan đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu KT-XH tỉnh nhà.
Trước đó, từ năm 1984 Chương trình Tây Nguyên II (48-09) đã triển khai 13 vấn đề và 19 đề tài khoa học, tập trung giải quyết những nhu cầu cần thiết và điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH. Giai đoạn 1986-1995, KHCN tập trung nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề bức thiết, cụ thể như: thâm canh các loại cây trồng và vật nuôi chủ lực; điều tra nghiên cứu tìm nguồn nguyên vật liệu xây dựng; nghiên cứu việc thực hiện chương trình phát triển năng lượng; nghiên cứu, tổng kết việc thực hiện định canh định cư.
Về nông nghiệp, một số giống lúa nước cực ngắn, chín sớm, chống chịu hạn, úng, sâu bệnh đã được khu vực hoá, kỹ thuật gieo sạ, cấy đảm bảo mật độ được áp dụng rộng rãi, và áp dụng nhiều TBKT khác, nhờ đó năng suất lúa nước đạt 45 tạ/ha. Cây ngô lai đã khảo nghiệm và ứng dụng đưa vào sản xuất các giống ưu thế như: CPĐK888, CPĐK999, Cargil122, với diện tích 24.500 ha. Cây cà phê, một trong những cây mũi nhọn của tỉnh đã có nhiều công trình nghiên cứu và TBKT được ứng dụng trong sản xuất. Từ kỹ thuật sản xuất giống bằng phương pháp vô tính, đến việc bình tuyển xây dựng tập đoàn giống cung cấp cho sản xuất, từ khâu phân vùng sinh thái, kỹ thuật thâm canh, đến phòng trừ sâu bệnh hại đều được nghiên cứu và tuân thủ, vì vậy chất lượng vườn cây không ngừng được tăng lên. Những nơi áp dụng đúng kỹ thuật đã tăng năng suất từ 1,2 lến 2,5 tấn/ha. Nổi bật của công tác nghiên cứu khoa học là việc áp dụng công trình Hệ sinh thái cà phê vào nông trường Ea Tung, Krông Ana trên diện tích gần 8 ha đã đưa năng suất từ 10 tạ/ha lên 40 tạ/ha Những ứng dụng TBKT mới về giống cây, con trong giai đoạn này tạo tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Giai đoạn này, một số mô hình đưa TBKT vào sản xuất vùng đồng bào dân tộc là bước thử nghiệm thành công kết hợp giữa khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật và quản lý gắn với sản xuất và đời sống, như chương trình KX-08 vùng 3 xã căn cứ Krông Bông. Kết quả nổi bật nhất của chương trình là nâng cao một bước trình độ nhận thức của đồng bào dân tộc tiếp thu công nghệ mới; xây dựng được đội ngũ kỹ thuật viên khuyến nông từ xã đến các thôn buôn; thay đổi cách nghỉ, cách làm và đặc biệt là lần đầu áp dụng một số giống cây trồng, vật nuôi mới như lúa cạn, ngô lai, các loại đậu đỗ, bò lai... Do đó chương trình có sức thuyết phục và lan toả lớn, góp phần làm thay đổi diện mạo vùng căn cứ cách mạng cũ còn nhiều khó khăn này.
Trong công nghiệp, nhiều TBKT đã được áp dụng vào sản xuất đạt kết quả. Công nghệ chế biến lâm sản đã hướng dần đến tinh chế, thực hiện tiết kiệm tài nguyên và nâng cao giá trị sản phẩm: ứng dụng công nghệ tinh chế gỗ cao su xuất khẩu (1.640m3/năm), công nghệ sản xuất ván ghép thanh, ván dăm, sản xuất các sản phẩm từ lồ ô, tre nứa để xuất khẩu đã được ứng dụng có kết quả. Công nghệ sản xuất bát hứng mũ cao su từ các mỏ cao lanh của Dak Lak với công suất 500.000 – 800.000 sản phẩm/năm. Tiến hành điều tra chất lượng, trữ lượng mỏ Fenspat làm nguyên liệu men sứ cao cấp với trữ lượng hàng trăm triệu tấn ở Ea Kar. Công nghệ sản xuất phân bón từ than bùn, chiết xuất các chế phẩm từ than bùn đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi. Chuyển biến mới trong công nghiệp là đã ứng dụng công nghệ mới như sản xuất tấm lợp Fibromagnhe; gạch không nung; gạch tuynel; các chất phụ gia trong công nghệ làm đường giao thông; cột điện bê tông ly tâm; cải tiến, chế tạo thiết bị chế biến cà phê theo phương pháp ướt công suất 10 tấn/ngày giảm giá thành trên 16.000 đồng/tấn quả so với công nghệ hiện có.
Các TBKT trong lĩnh vực lâm sinh, như làm giàu bằng phương pháp tái sinh, trồng rừng bằng phương pháp tra dặm hạt, quy luật tái sinh rừng khộp, các giống cây gỗ sinh trưởng nhanh được nghiên cứu lựa chọn và xác định cơ cấu cây trồng phủ xanh đất trống nghèo kiệt... đã mang lại những kết quả khả quan.
Đặc biệt trong giai đoạn này là việc thành lập bản đồ hiện trạng tỉnh Dak Lak 1/100.000; xác định lại khoanh vĩ một số vùng sản xuất chuyên canh như cà phê, cao su, lúa, màu, ranh giới giữa đất rừng và đất nông nghiệp... Nhờ đó, việc phân bố, điều động dân cư trên địa bàn tỉnh được hợp lý và đi dần vào thế ổn định. Triển khai lập bản đồ đất Dak Lak tỷ lệ 1/100.000 đã tạo thêm những căn cứ khoa học cho việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất của tỉnh.
Trong lĩnh vực khoa học xã hội, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của chương trình 48C về điều tra cơ bản tự nhiên, xã hội Tây Nguyên đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề KT-XH các dân tộc tỉnh Dak Lak. Tám vấn đề KT-XH cơ bản và cấp bách đặt ra đã được nghiên cứu giải quyết đồng bộ: 1) Định canh, định cư và phát triển kinh tế vườn; 2) Quy hoạch lại dân cư, lao động, đất đai và phát triển các ngành nghề, giải quyết tốt vấn đề sở hữu đất đai đang đặt ra; 3) Các hình thức tổ chức sản xuất lấy hộ nông dân cá thể sản xuất hàng hoá nhỏ làm cơ sở song song với phát triển hợp tác sản xuất giữa các hộ nông dân ấy; 4) Hình thành và phát triển kinh tế hàng hoá; 5) Phát triển giáo dục và nâng cao dân trí; 6) Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc; 7) Xây dựng nếp sống văn hoá mới ở cơ sở; và 8) Chính sách dân tộc. Những cơ sở và kết luận về các vấn đề trên giúp lãnh đạo địa phương nhận thức một cách khoa học và toàn diện về các dân tộc tỉnh Dak Lak, từ đó định ra chiến lược phát triển hợp lý và có những bước đi thích hợp đối với chính sách dân tộc của tỉnh.
Công tác điều tra các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nghiên cứu những vấn đề bức xúc về KT-XH giai đoạn này đã được định hình và xác định rõ. Một tỉnh Tây Nguyên sau ngày giải phóng có một tiềm năng phong phú về đất, rừng, khoáng sản quý, với những điều kiện tự nhiên đặc thù sẽ là nền tảng rất cơ bản để xây dựng và hoạch định chiến lược phát triển KT-XH và KHCN của tỉnh.
KHCN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (1996-2005)
Sau những năm đổi mới, KHCN của tỉnh đã có những bước phát triển mới gắn bó hơn với sản xuất và đời sống, góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát triển KT-XH địa phương. Đặc biệt từ sau khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) của Đảng về định hướng chiến lược phát triển KHCN trong thời kỳ CNH, HĐH, KHCN địa phương đã có sự quan tâm đúng mức hơn để đi đúng hướng của Đảng. Tỉnh uỷ có chương trình hành động số 27 về thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 về KHCN; HĐND tỉnh có Nghị quyết số 24 về Chương trình phát triển KHCN và bảo vệ môi trường đến năm 2000 và 2010. Theo đó, 6 chương trình trọng điểm về nghiên cứu phát triển KHCN của tỉnh được đề ra, trên cơ sở của mục tiêu chiến lược là:
- Xây dựng luận cứ khoa học cho việc tìm ra bước đi thích hợp trong công cuộc xây dựng và phát triển một nền kinh tế bền vững, trên cơ sở khai thác hợp lý tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, lao động tại chỗ để thực hiện có hiệu quả chiến lược CNH, HĐH đất nước.
- Khai thác và phát huy mọi nguồn lực KHCN, nâng cao hiệu quả đầu tư cho KHCN và bảo vệ môi trường.
- Bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, phát huy nhân tố con người, đặc biệt chú ý đến điều kiện cho người dân nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất và đời sống.
Hệ thống 6 chương trình với mục tiêu trên đây là nội dung định hướng cho các chương trình, đề tài nghiên cứu và các hoạt động cụ thể của KHCN và bảo vệ môi trường. Thành công có nhiều, không thành công cũng có, nhưng cái chính là nó đi đúng định hướng. Xin đơn cử một vài thành tựu đó.
a) Về khoa học công nghệ
Với mục tiêu đổi mới về chất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực KTKT trọng yếu của từng vùng, nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng nhanh mức sống của nhân dân, KHCN đã tập trung nghiên cứu cải tiến, ứng dụng công nghệ mới trong khâu thu hoạch, chế biến một số loại nông sản, đảm bảo chất lượng xuất khẩu, quy mô hợp lý, phù hợp với vùng nông thôn.
Một số đề tài như: “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo dây chuyền thiết bị chế biến cà phê nhân xuất khẩu...”; “Xác định cơ cấu trang bị cơ điện nông nghiệp phục vụ sản xuất và chế biến nông sản...”; “Sản xuất thử nghiệm thiết bị sấy cà phê nông sản quy mô nhỏ”; “Áp dụng công nghệ sản xuất gạch đất sét nung lò gạch liên tục kiểu đứng”... đã mang lại kết quả khả quan, giúp tăng năng suất lao động và giảm giá thành sản phẩm. Hiện đã hoàn thiện công nghệ máy xát tươi trục đứng, công suất 2 – 5 tấn quả tươi/giờ và máy xát khô công suất 1 – 2 tấn quả khô/giờ, cơ khí địa phương có thể đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, thành tựu của KHCN là đáng kể. Đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phục tráng các giống cây trồng, vật nuôi năng suất và chất lượng cao phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái cũng như ứng dụng có chọn lọc các giải pháp công nghệ về sinh học trong sản xuất giống, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đảm bảo chất lượng xuất khẩu, và đã đạt được một số kết quả trên từng lĩnh vực:
- Cây cà phê, cây điều đã áp dụng thành công phương pháp nhân giống vô tính để tạo ra các giống năng suất cao, mang đặc tính tốt của cây mẹ. Với cây cà phê vối, có các giống lai cao sản như 16/21, 01/30, 04/55. Cây cao su, đã nghiên cứu ứng dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc, phân bón, thiết kế thảm phủ, bảo vệ thực vật, tuyển chọn các giống tốt như PB235, RRIC121, PB330 có nhiều ưu điểm.
- Với cây bông, lúa, ngô đã áp dụng một số giống lai nhập nội cho năng suất, chất lượng cao như: các giống bông LVN20, LVN35, LVN36, LVN42, giống lúa IR64, IR59-603, GD20, VN95-19 có mặt ở hầu hết diện tích. Nổi bật là việc ứng dụng thành công giống ngô lai vào khảo nghiệm để chọn một số giống ưu điểm: Bioseed, Pasific, CPDK888, LVN10 đạt năng suất trung bình 4 tấn/ha...
- Trong chăn nuôi, đã thử nghiệm công thức lai kinh tế F1 bò hướng thịt, giữa giống bò lai Sin với 3 giống bò Simental, Abondance, Tarentaise bằng phương phương pháp tin cộng rạ và xây dựng quy trình nuôi bò lai hướng thịt, đã tạo được con giống F1, đặc biệt là việc phát triển giống cỏ năng suất cao, chất lượng đảm bảo ở một số huyện như Ea Kar, M’DRăk, mở ra triển vọng mới chăn nuôi gia súc công nghiệp.
Một số kết quả đề tài, dự án như: Chọn giống và kỹ thuật nhân giống cà phê cho năng suất cao; Nghiên cứu chế độ bón phân và hiệu lực phân bón đối với cây cà phê; Tác dụng của phân khoáng vi lượng ảnh hưởng đến cây trồng; Nghiên cứu các biện pháp gieo ươm một số loài gỗ bản địa quý hiếm; Ứng dụng kỹ thuật ghép áp trong nhân giống điều... đã được ứng dụng và mang lại hiệu quả rõ rệt.
b) Về khoa học xã hội và nhân văn
Đã tập trung vào việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống, nếp sống văn hoá trong thời kỳ CNH, HĐH. Nhiều đề tài đã đi sâu nghiên cứu về văn hoá cổ truyền các dân tộc bản địa. Tìm hiểu về luật tục, chữ viết, nghi lễ, lễ hội, hoa văn truyền thống... nhằm khôi phục và phát huy những giá trị văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao sự hưởng thụ văn hoá trông cộng đồng. Nghiên cứu tổng kết lịch sử địa phương nhằm đúc kết những vấn đề lý luận và thực tiễn góp phần giáo dục truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ. Tập trung nghiên cứu, thử nghiệm các mô hình xã hội hoá và đa dạng hoá giáo dục, đào tạo. Đặc biệt chú trọng triển khai ứng dụng và nâng cao chất lượng dạy chữ dân tộc và chống xoá mù chữ, như các đề tài: “Thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở các trường phổ thông dân tộc nội trú...”; “Biên soạn sách học sau xoá mù cho vùng đồng bào dân tộc Êđê"...
Điểm nổi bật và cũng là một thành công trong công tác nghiên cứu khoa học thời gian qua là đã ứng dụng rộng rãi KHCN vào sản xuất và đời sống của nhân dân, nhất là các vùng đồng bào dân tộc, có đời sống khó khăn và hiểu biết về KHCN còn nhiều hạn chế. Một số đề tài, dự án thuộc chương trình phát triển nông thôn miền núi đầu tư vào các vùng kinh tế còn chậm phát triển, như: “Xây dựng mô hình kinh tế tổng hợp phát triển nông nghiệp bền vững vùng đồng bào dân tộc xã Đăk Gằn, Đăk Mil”; “Xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại xã Krông Ana, Buôn Đôn”; “ Xây dựng mô hình ứng dụng KHCN mới phục vụ thâm canh cây cà phê cho đồng bào dân tộc vùng kinh tế 53, Cư M’Gar và Krông Păk”... đã mang lại hiệu quả về kinh tế và xã hội sâu sắc, và có sức lan toả lớn.
Đạt được những thành tựu như trên trước hết là việc triển khai chương trình thực hiện Nghị quyết TWII một cách có hiệu quả và đúng hướng. Sự phối kết hợp hiệu quả giữa các ngành của tỉnh và cơ quan trung ương trên địa bàn, thu hút được các nhà khoa học, quản lý đầu ngành tham gia nghiên cứu, cũng như tận dụng được các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có trong nghiên cứu và ứng dụng KHCN. Giai đoạn này đã có những chuyển biến tốt về công tác nghiên cứu, ứng dụng TBKT, đổi mới công nghệ, thiết bị hiện đại, tạo ra các sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, làm tăng giá trị xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế của tỉnh.
Bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, hoạt động nghiên cứu KHCN trong thời gian qua còn có một số vấn đề tồn tại như:
- KHCN có bước phát triển khá nhưng vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu to lớn của công cuộc đổi mới và làm tiền đề vững chắc để bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH ở địa phương.
- Hoạt động nghiên cứu KHCN mới giải quyết những vấn đề trước mắt, chưa đầu tư đúng mức những vấn đề cơ bản, lâu dài, có tính định hướng chiến lược. Các chủ trương khuyến khích phát triển KHCN còn thiếu đồng bộ, chưa cụ thể, chưa gắn KHCN với sản xuất và đời sống.
- KHCN đối với vùng sâu, vùng xa còn ít, tản mạn, phần lớn dừng lại ở dạng mô hình, thí điểm, chưa thực sự có chiều sâu để tạo sức lan toả lớn và nhân rộng ứng dụng ra toàn tỉnh.
- Quy mô, số lượng của các công trình nghiên cứu còn khiêm tốn, thiếu công đoạn chuyển tiếp giữa nghiên cứu và thực tiễn nên kết quả chậm được đưa vào ứng dụng và hiệu quả chưa cao.
- Đội ngũ cán bộ KHKT, nhất là những người có trình độ đào tạo sau đại học tăng nhanh hơn trước nhưng quỹ thời gian của họ dành cho công tác nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế. Bên cạnh đó còn thiếu những chuyên gia đầu ngành, chuyên gia giỏi để tham gia vào lĩnh vực này. Nhiều cơ chế chính sách hoạt động khoa học công nghệ còn chậm đổi mới, chưa theo kịp với yêu cầu công tác quản lý, vì vậy trở ngại cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ.
Phát huy thành tựu 30 năm nghiên cứu KHCN, tiếp tục triển khai các nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII và Nghị quyết TW 6 về KHCN, tập trung thực hiện các chương trình đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, từng bước tạo lập thị trường công nghệ ở địa phương phục vụ cho sự phát triển và hội nhập. Trước mắt tập trung vào tuyển chọn, sản xuất và nhân các giống có năng suất, chất lượng cao đối với một số cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Ưu tiên phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản chủ yếu của tỉnh; tăng nhanh sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, cạnh tranh được với thị trường khu vực và thế giới.
Khái quát được một cách cơ bản những đặc trưng về lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc. Đẩy mạnh nghiên cứu về công tác giáo dục - đào tạo, nhất là vấn đề chất lượng giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng các mô hình ứng dụng và chuyển giao TBKT cho vùng sâu, vùng xa, vùng có nền kinh tế còn chậm phát triển.
Khai thác và phát huy mọi nguồn lực KHCN, nâng cao hiệu quả đầu tư cho KHCN. Phát huy nhân tố con người trên mọi lĩnh vực. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và thu hút đội ngũ cán bộ KHCN để đủ sức giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ KHCN phục vụ phát triển KT-XH. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động KHCN, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu.
Hoạt động KHCN ngày càng hướng mạnh về cơ sở. Tìm các giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hệ thống chất lượng đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chuẩn bị cho tiến trình hội nhập và phát triển. Và nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra hàng ngày, hàng giờ mà khoa học phải dày công nghiên cứu trên con đường phát triển để hội nhập thành công.