KẾT QUẢ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT
TRONG NÔNG NGHIỆP
I. ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ
Ngay sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Đảng và Chính phủ đã có chủ trương thực hiện các chương trình lớn điều tra tài nguyên của vùng Tây Nguyên để có những định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Kết quả thực chương trình Tây Nguyên I, Tây Nguyên II, chương trình 48C đã làm cơ sở hoạch định chiến lược phát triển lâu dài cho toàn vùng.
Các chủ trương chính sách là sự cụ thể hóa quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng thể hiện qua các thời kỳ đại hội. Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986, mà cụ thể là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo ra cơ chế mới đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp nông thôn. Trong thập niên 1990, Đại hội VII của Đảng đã đề ra đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đến năm 2000 theo phương châm tiếp tục kiên trì sự nghiệp đổi mới, trong đó nông nghiệp và nông thôn được xác định là mặt trận hàng đầu. Bước sang thế kỷ 21, Đại hội IX của Đảng với nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đấy mạnh phát triển kinh tế Hợp tác và Hợp tác xã, phát triển mạnh kinh tế tư nhân, tiếp tục sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, nhằm đưa nông nghiệp nông thôn phát triển bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, đẩy mạnh công nghiệp chế biến nâng cao chất lượng sản phẩm, gắn sản xuất với thị trường, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn hợp lý và phát triển bền vững. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng đề ra, kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh ta đã có những bước phát triển mạnh và vững chắc. Quá trình đổi mới trong nông nghiệp đã tạo ra sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế và đạt được những thành tựu đáng tự hào, đưa nền kinh tế của tỉnh từ chỗ tự cấp, tự túc, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa đa dạng, không những giải quyết được nhu cầu nông sản phẩm hàng hóa thiết yếu trong tỉnh mà còn xuất sang các tỉnh bạn và xuất khẩu ra nước ngoài.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới đã có những tiến bộ: năng động hơn, sáng tạo hơn và có hiệu quả kinh tế rõ nét. Thông qua phương thức sản xuất kinh doanh đã có tác động đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp: tốc độ tăng trưởng hàng năm khá, nhiều doanh nghiệp từ lỗ chuyển sang lãi, hiệu quả kinh tế từ thấp lên cao. Thời kỳ này nhiều chính sách đổi mới được ban hành đã có tác động mạnh đến sự phát triển của các doanh nghiệp nông nghiệp. Các doanh nghiệp nông nghiệp đã áp dụng nhiều hình thức khoán sản phẩm nhằm khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh của mình.
1. Về trồng trọt :
Tổng diện tích đất nông nghiệp liên tục tăng: năm 1986 tổng diện tích đất gieo trồng mới có 157.608 ha, năm 1995: 311.034 ha, đến năm 2003 lên đến 613.516ha. Diện tích các loại cây trồng tăng đã góp phần tăng nhanh sản lượng đáp ứng yêu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
Diện tích đất gieo trồng cây hàng năm: năm 1996 mới có 111.288 ha, đến năm 2003 lên đến 317.383 ha, tăng 185%.
Trong diện tích gieo trồng cây hàng năm thì diện tích cây lương thực có hạt năm 2003 là 187.866 ha, so với năm 1986 (70.122 ha) gấp 2,68 lần, tăng 168%. Năng suất lúa nước tăng từ 37,71 tạ/ha lên 47,98 tạ/ha, tăng 27,23%, năng suất cây ngô tăng từ 22,86 tạ/ha lên 46,73 tạ/ha, tăng 104,42%. Do diện tích gieo trồng các loại cây có hạt tăng, năng suất tăng nên làm cho sản lượng tăng từ 174.110 tấn lên 862.161 tấn, tăng 395%, trong đó sản lượng thóc tăng từ 132.754 tấn lên 331.125 tấn, sản lượng ngô tăng từ 41.356 tấn lên 531.036 tấn. Các loại cây có bột khác cũng đều tăng cả về diện tích, năng suất, làm cho sản lượng tăng từ 82.749 tấn lên 416.759 tấn, tăng 403,64%. Chương trình an ninh lương thực là chương trình trọng điểm của công tác khuyến nông của tỉnh ta trong các năm qua. Với sự sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học, khuyến nông, thông qua tiếp cận thực tế với nông dân đã từng bước đẩy nhanh tốc độ tăng năng suất cây trồng đặc biệt là cây lương thực. Việc khuyến khích nông dân sử dụng các giống lúa mới như: KSB 54, KSB 218, VND-19, OM997-6, OM1643, I R841, I R64... đã đưa năng suất đạt từ 6 tấn đến 7,5 tấn /ha. Thành công rất lớn của công tác khuyến nông là đã đưa cây ngô lai vào sản xuất đại trà trên diện rộng góp phần đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo cho nông dân. Từ chỗ năm 1993 toàn tỉnh mới chỉ đưa vào sản xuất thử 200 ha ngô lai thì đến năm 2003 diện tích ngô lai đạt đến 92.245 ha, năng suất ngô lai bình quân 10 năm (1994-2003) đạt từ 4 - 5 tấn/ha và đã mang lại hiệu quả kinh tế cho xã hội, tăng 950 tỷ đồng từ năm 1994 đến năm 2003 (do chuyển đổi từ ngô địa phương sang ngô lai). Do diện tích, năng suất, sản lượng cây ngô lai của tỉnh ta tăng mạnh nên đã góp phần không những xóa đói giảm nghèo mà còn làm cho đời sống của nhiều hộ nông dân khá lên, thu nhập tăng, nhất là nông dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Định hướng đến năm 2010 Dak Lak chỉ giữ lại 135.000 - 140.000 ha cà phê và đi vào thâm canh, sử dụng các loại giống cà phê cho năng suất và chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Cây công nghiệp ngắn ngày đều tăng mạnh cả về diện tích, năng suất và sản lượng góp phần tăng tổng giá trị sản phẩm của ngành trồng trọt. Nếu như năm 1986 tổng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày toàn tỉnh mới chỉ đạt 18.606 ha thì đến năm 2003 đã đạt đến 63.651 ha, tăng 242,1%. Trong các loại cây công nghiệp ngắn ngày từ năm 1986 - 2003: cây lạc diện tích tăng từ 12.224 ha lên 19.651 ha, sản lượng tăng từ 11.095 tấn lên 29.789 ha, tăng 168,49%, cây đậu tương diện tích tăng từ 4.195 ha lên 22.603 ha, sản lượng từ 3.739 tấn lên 37240 tấn, tăng 895,99%, cây bông vải diện tích tăng từ 200 ha lên 10.069 ha, sản lượng tăng từ 12 tấn lên 13.330 tấn, cây mía diện tích tăng từ 2037 ha lên 10.012 ha, sản lượng tăng từ 77.573 tấn lên 489.522 tấn, tăng 531,05%. Nhìn chung các loại cây công nghiệp ngắn ngày đều tăng cả về diện tích, năng suất, sản lượng đã góp phần đẩm bảo nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh , xuất sang các tỉnh bạn và xuất khẩu tăng thêm nguồn thu cho nông dân , cho ngân sách của tỉnh .
Diện tích cây lâu năm như cà phê, ca cao, cao su, tiêu, điều, các loại cây ăn quả tăng nhanh đáp ứng yêu cầu tiêu dùng tại chỗ và xuất khẩu. Năm 1986 diện tích các loại cây lâu năm là 46.320 ha, đến năm 2003 lên đến 295.852 ha, tăng 249.532 ha, tăng 538,71%, trong đó diện tích cây cà phê tăng từ 21.829 ha lên 232.560 ha, sản lượng tăng từ 7.884 tấn lên 366.493 tấn, diện tích cây cao su tăng từ 10.896 ha lên 29.065 ha, sản lượng tăng từ 1.935 tấn lên 18941 tấn, diện tích cây hồ tiêu tăng từ 79 ha lên 8.933 ha, sản lượng tăng từ 48 tấn lên 12.969 tấn, diện tích các loại cây ăn quả tăng từ 2.150 ha lên đến 7.789 ha, tăng 262,28% ....
2. Về chăn nuôi :
Một lợi thế của Dak Lak là điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc dồi dào, bởi vậy tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong các năm qua tăng mạnh. Nếu lấy năm 2003 so với năm 1986: đàn trâu tăng từ 16.400 con lên 23.000 con, tăng 40,24%, đàn bò từ 85.000 con lên 114.600 con, tăng 34,82%, đàn dê tăng từ 7.400 con lên 13.500 con, tăng 82,43%, đàn gia cầm tăng mạnh từ 578.200 con lên 5.477.400 con, tăng 795,43%.
Đàn ong tăng mạnh, năm 1986 mới chỉ có 1.200 đàn, năm 2003 lên đến 160.000 đàn, sản lượng mật ong xuất khẩu năm 2003 đạt trên 4.000 tấn.
Do chăn nuôi lợn phát triển mạnh, sản lượng thịt lợn tăng không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn xuất sang các tỉnh bạn: năm 1986 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 4.073 tấn, năm 1990 là 7.700 tấn, năm 1995 là 24.024 tấn, năm 2000 đạt 44.001 tấn, năm 2003 đạt 57.619 tấn. Nếu lấy năm 2003 so với năm 1986 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 1314,66%. Tỷ trọng chăn nuôi so với toàn ngành nông nghiệp tăng từ 8,48% năm 2000 lên 11,23% năm 2003, hình thức chăn nuôi trang trại với quy mô lớn phát triển trên diện rộng đang dần thay thế cho hình thức chăn nuôi kinh tế hộ. Chăn nuôi lợn phát triển cả về số lượng và chất lượng: đàn heo lai hai máu, ba máu có tỷ lệ máu heo ngoại từ 50% đến 75%. Đã xuất hiện một số trang trại nuôi heo sinh sản, heo thịt với quy mô lớn và sử dụng giống ngoại thuần chủng nên có tác dụng dần dần làm thay đổi căn bản chất lượng đàn heo. Sản lượng heo thịt không những đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà hàng năm còn xuất bán ngoài tỉnh trên dưới 20.000 tấn (khoảng 250.000 con).
- Gía trị sản xuất ngành thủy sản tăng từ 88.308 triệu lên 107.506 triệu đồng, tăng 21,7%. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng từ 3.378,6 ha năm 2000 lên 4.091,91 ha năm 2003, tăng 21,1%. Để dẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản, các hộ nông dân, các chủ trang trại, các doanh nghiệp nông nghiệp đã tận dụng diện tích mặt nước ao, hồ hiện có, áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư thâm canh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao.
3. Chế biến nông lâm sản.
Công nghiệp chế biến nông, lâm sản phát triển với tốc độ khá, ngành nghề nông thôn tăng, đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển toàn diện và bền vững.
Trong các năm qua ngành nghề nông thôn của Dak Lak đã có những chuyển biến đáng kể. Do đòi hỏi của thị trường khối lượng nông sản hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều, nên việc chế biến nông sản phải phát triển để thích ứng với yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh chế biến nông sản, chế biến lâm sản mà chủ yếu là chế biến gỗ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng. Đến nay toàn tỉnh đã có 38 doanh nghiệp chế biến gỗ (trong đó có 18 doanh nghiệp nhà nước và 20 doanh nghiệp tư nhân) và 450 cơ sở mộc dân dụng, với tổng số lao động tham gia là 5.700 người. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn bỏ vốn đầu tư lớn như: Công ty CNR Tây Nguyên, Xí nghiệp Chế biến gỗ Trường thành, Công ty TNHH Cao Lâm, Công ty TNHH Hoàng Nguyên, Công ty Quyết thắng Dak Lak ... với mức vốn bình quân một doanh nghiệp từ 4,5 - 8,5 tỷ đồng.
- Sản phẩm gỗ tinh chế xuất khẩu: đạt 2.400 m3 với doanh thu 4,5 triệu USD năm 2000 và năm 2003 đạt 4.186 m3 gỗ với doanh thu 5,905 triệu USD. Sản phẩm gỗ tinh chế tiêu thụ nội địa: năm 2003 là 36.478 m3 gỗ so với năm 2000 (3500 m3 gỗ) tăng 32.978 m3 gỗ, tăng 942%. Gía trị sản phẩm đồ gỗ dân dụng tiêu thụ nội địa năm 2003 là 54 tỷ đồng so với năm 2000: 49 tỷ, tăng 10,2%.
Ngành nghề nông thôn phát triển đã góp phần thu hút một bộ phận lao động trong nông nghiệp, tạo ra sự phân công lao động mới trong ngành nông nghiệp hợp lý hơn, đồng thời tăng giá trị nông sản phẩm hàng hoá, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
4. Lâm nghiêp
Về lâm nghiệp, rừng được bảo vệ tốt hơn, giảm dần nạn phá rừng, chất lượng rừng trồng mới được cải thiện
- Lâm nghiệp đã có bước chuyển biến từ nền lâm nghiệp thuần tuý nhà nước sang nền lâm nghiệp xã hội. Thực hiện dự án trồng 5 triệu ha rừng trên phạm vi toàn quốc, tỉnh Dak Lak đã tiến hành trồng rừng theo kế hoạch dự án 661 như sau: năm 2002 trồng được 5.305 ha rừng, năm 2003 trồng được 4.520 ha rừng. Đến nay diện tích rừng trồng toàn tỉnh hiện có 14.400 ha, trong đó rừng nguyên liệu là 10.535 ha, còn lại là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Ngành lâm nghiệp đã thực hiện giao đất, giao rừng lâu dài cho hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng quản lý và tổ chức sản xuất được 18.389 ha cho 1.782 hộ. Các hộ được giao đất, giao rừng được hưởng lợi từ rừng là 6% tổng lượng gỗ khai thác hàng năm.
Giao khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hàng năm cho hộ gia đình bình quan qua các năm 2000-2003 trên dưới 11.000 ha, với tổng số hộ nhận khoán là 4.082 hộ (trong đó có 2.738 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ). Nâng độ che phủ của rừng từ 54% năm 2000 lên 57% vào năm 2010. Rừng được bảo vệ tốt hơn, giảm dần nạn phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ bừa bãi.
Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trên địa bàn tỉnh, nếu như năm 2000 tỷ trọng sản phẩm của ngành nông nghiệp chiếm: 78,82 % tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh thì năm 2003 giảm xuống chỉ còn 74,63%. Tương ứng với tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm, tỷ trọng ngành công nghiệp tăng đã tạo đà đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nhất là khâu chế biến nông sản phẩm sau thu hoạch, tạo ra sản phẩm có chất lượng ngày càng cao, đẩy mạnh xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước.
Thực hiện phương hướng Nghị quyết 13/ NQ-TU của Ban chấp hành tỉnh đảng bộ Dak Lak đề ra: “Phấn đấu đến năm 2010 đưa tỉnh ta trở thành một tỉnh có kinh tế phát triển đạt trên mức trung bình của cả nước; có văn hoá tiên tiến và giữ được bản sắc dân tộc; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trong những năm qua kinh tế tỉnh nhà đã dần dần từng bước phát triển vững chắc, thích ứng với nền kinh tế thị trường. Ngành kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có bước phát triển đột biến, sản lượng các loại hàng hoá nông, lâm sản tăng nhanh không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn xuất ra ngoài tỉnh và xuất khẩu. Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong ngành nông, lâm nghiệp đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển không chỉ trong nội bộ ngành, mà còn tác động đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành Công nghiệp - Xây dựng và Dịch vụ, góp phần từng bước thúc đẩy nên kinh tế phát triển toàn diện, vững chắc. Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và cải thiện đời sông nhân dân, góp phần thực hiện các nhiệm vụ về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn do Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra.
II./ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU VẬT NUÔI CÂY TRỒNG
Từ năm 2000 tới nay, Sở KH-CN tỉnh đã thực hiện khoảng 40 đề tài nghiên cứu chủ yếu ở các lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng như nông hóa thổ nhưỡng, khí tượng thủy văn, giống cây trồng vật nuôi... đã góp phần rất lớn trong ứng dụng, nhân rộng và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Các giống lúa lai (Bắc ưu 64, Nhị ưu 838...), ngô (Cargill 1922; LVN 10...), lạc (VD1, VD2, VD3) được nhiều nông hộ tại các huyện Cư Jút (tỉnh Dak Nông, Ea H'leo, Krông Ana... áp dựng thành công. Hiệu quả của các kỹ thuật nhân giống vô tính cây công nghiệp như: ghép cây cà phê, ghép áp trong sản xuất giống điêu bằng phương pháp vô tính, trồng tiêu bằng trụ gạch xây, trụ cây sống vừa giúp các hộ nông dân cải tạo vườn cây già cỗi, kém năng suất vừa tạo cơ sở nhân giống chất lượng cao, giá thành rẻ. Các cơ sở nhân giống điều ở Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M'gar đã được xây dựng. Trong chăn nuôi, nhờ kết quả của các đề tài nghiên cứu đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất có quy mô vừa và lớn và có khả năng nhân rộng hơn nữa như: vỗ béo bò ở Ea Kar, chăn nuôi bò thịt tại Ea Súp, nuôi heo hướng nạc, trang trại gia cầm... Những cải tiến công nghệ trong chế biến cao su, cà phê; máy tách hạt ngô, đậu; công nghệ mạ kẽm; máy sấy quy mô nhỏ; sử dụng khí đốt bằng Biogas.. đã đem lai những hiệu quả tích cực đất với đời sống nông dân, nhất là ở các vùng sâu, xa. Theo đánh giá của Sở KH-CN, 60% kết quả các dự án nghiên cứu được áp dụng vào sản xuất và đời sống. Ngoài ra, được sự hỗ trợ của Chương trình Nông thôn miền núi (Bộ KH-CN), từ năm 2000 tới nay, tỉnh ta đã thực hiện 4 dự án Nông thôn miền núi có hiệu quả và có tính khả thi cạo nhất áp dụng TBKT trong trồng trọt và chăn nuôi cho đồng bào dân tộc xã Bông Krang (Lak) ứng dụng TBKT nhân giống nấm ăn và sản xuất nấm thương phẩm, ứng dụng TBKT tổng hợp thâm canh cây cà phê cho đồng bào Êđê ởvùng kinh tế 53 (Cư M’gar Krông Pak); áp dụng các biện pháp thích hợp thâm canh cây bông ở xã Ea Pô, huyện Cư Jut (tỉnh Dak Nông).
Cùng với Sở KH-CN, Trung tâm khuyến nông và giống cây trồng vật nuôi tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến, khuyến khích nông dân áp dụng TBKT vào sản xuất. Nhân rộng diện tích cây ngô lai là một trong những thành công nhất của công tác khuyến nông những năm qua. Từ 200 ha trồng thử 1993, đến năm 2002, toàn tỉnh đã có trên 80.000 ha ngô lai (chiếm 91% diện tích trồng ngô) với năng suất ngày càng cao (có hộ nông dân đạt năng suất 11tấn/ha). Những giống lúa mới năng suất và chất lượng cao (Nhị ưu 838, Nông ưu 28, Bồi tạp sơn thanh...) ngày càng được nhiều đồng bào vùng sâu, xa đưa vào canh tác. Trong chăn nuôi, việc cải tạo đàn bò nền địa phương bằng phối giống, nạc hóa đàn heo, phát triển giống gia cầm siêu thịt siêu trứng... được người dân đón nhận và bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Từ năm 1993đến 2003, đã có 3019 điểm trình diễn cải tạo bò địa phương với 2673 hộ nông dân tham gia, hàng chục nghìn con bò được phối giống cho năng suất cao; xuất hiện, nhiều trang trại chăn nuôi heo quy mô lớn, hướng đến mục tiêu xuất heo thịt đi tỉnh khác (năm 2002, lần đầu tiên Dak Lak xuất được 158.000 con heo thịt sang các tỉnh bạn); có 577 hộ nông dân tham gia các mô hình chăn nuôi gia cầm với gần 30.000 đầu con, năng suất các giống gà mới tăng 30-40% so với giống cũ... Ngoài ra, ngày càng có nhiều sản phẩm được mới được đưa vào sản xuất nông nghiệp tại tỉnh ta như như cây ca cao, cây tre lấy măng, nấm ăn, tôm càng xanh, bò sữa... mở ra cơ hội cho người nông dân lựa chọn hướng đầu tư sản xuất bền vững hơn, góp phần đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu vật nuôi - cây trồng.
Có thể nói, nhờ áp dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi, bộ mặt nông thôn tỉnh ta đã có nhiều khởi sắc. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 giảm xuống còn 11,07% (36.213hộ). Đó cũng là căn cứ quan trọng để kỳ họp HĐND Tỉnh vừa qua đặt ra chỉ tiêu năm 2005 phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%.
III./ CÔNG TÁC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Bằng nhiều hình thức, công tác thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) đã chuyển tải những tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đến người nông dân. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền thanh, truyền hình có những nội dung thiết thực với sản xuất nông nghiệp. Nhiều chương trình khuyến nông, khoa học kỹ thuật với nhà nông đã giúp bà con nông dân nắm bắt quy trình chăn nuôi gia súc, thâm canh các loại nông sản, biết cách dùng thuốc bảo vệ thực vật.
Với kết quả các đề tài nghiên cứu, Sở Khoa học và Công nghệ thường xuyên xuất bản các sách kỹ thuật như: kỹ thuật canh tác và chế biến cà phê, kỹ thuật trồng và chăm sóc tiêu, kỹ thuật nuôi trồng nấm... đã cung cấp cho người sản xuất những kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cơ bản.
Các lớp tập huấn kỹ thuật, mô hình trình diễn kỹ thuật trong chương trình đề tài, dự án đã đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng đến với bà con nông dân, ngược lại các mô hình trình diễn cũng là cơ sở để kiểm tra các kết quả nghiên cứu.
Áp dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin, ngày càng nhiều hộ nông dân sử dụng các phương tiện nghe nhìn hiện đại để nắm bắt khoa học kỹ thuật. Các đĩa VCD phim KH&CN về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, chế biến nông sản, hỏi đáp về dịch hại, tư vấn về lĩnh vực giống, phân bón, thú y bằng kỹ thuật số đã rút ngắn khoảng cách tiếp cận khoa học kỹ thuật của bà con nông dân. Mô hình thư viện điện tử cấp xã đã được áp dụng và sẽ nhân rộng tại Dak Lak không chỉ giúp bà con nông dân nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật mà còn góp phần góp phần nâng cao dân trí, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư địa phương.
IV. HOẠT ĐỘNG KH&CN CẤP HUYỆN
Hoạt động KH&CN cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc đưa tiến bộ kỹ thuật thực tế đời sống và sản xuất. Trong vài năm trở lại đây công tác KH&CN cấp huyện đã huy động được nguồn lực của địa phương một cách hợp lý để tổ chức thực hiện thành công các mô hình tiến bộ kỹ thuật.
Các chương trình cải tạo giống lúa, ngô, đậu, đỗ, ghép cải tạo cây cà phê, điều; hỗ trợ máy sấy quy mô nhỏ đã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng, hiệu quả sản xuất và thu nhập cho bà con nông dân. Việc thực hiện công tác KH&CN cấp huyện cho thấy ở đâu có sự phối hợp của cán bộ KH&CN cấp huyện và các đoàn thể thì mô hình ở đó đạt kết quả tốt, số liệu thu được có tính khoa học, thực tiễn đáng tin cậy làm cơ sở để nhân rộng và khuyến cáo.